Khơi thông “vốn kiên nhẫn” để chuyển dịch từ tăng trưởng tín dụng sang năng lực sản xuất

Thanh khoản và tín dụng tăng không đồng nghĩa nền kinh tế đã có đủ vốn cho phát triển. Vấn đề của Việt Nam nằm sâu hơn ở cấu trúc tài chính, khi hệ thống ngân hàng đang phải gánh quá nhiều nhu cầu vốn có thời gian hoàn vốn từ vài năm đến vài chục năm. Muốn chuyển từ tăng trưởng dựa vào tín dụng sang tăng trưởng dựa trên năng lực sản xuất, Việt Nam cần hình thành "vốn kiên nhẫn" và một hệ sinh thái tài chính đa kênh...

Hệ thống ngân hàng đang phải gánh quá nhiều nhu cầu vốn có thời gian hoàn vốn từ vài năm đến vài chục năm. Ảnh: thoibaotaichinhvietnam.vn.
Hệ thống ngân hàng đang phải gánh quá nhiều nhu cầu vốn có thời gian hoàn vốn từ vài năm đến vài chục năm. Ảnh: thoibaotaichinhvietnam.vn.

VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Huỳnh Hồ Đại Nghĩa, Chuyên gia chính sách công, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐANG GÁNH MỌI NHU CẦU CỦA NỀN KINH TẾ

Hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng tình trạng doanh nghiệp sản xuất thiếu vốn là do tín dụng chưa đi đúng địa chỉ. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Nhận định đó đúng nhưng chưa đủ. Từ góc nhìn toàn cảnh, vấn đề sâu hơn nằm ở cấu trúc của chính sách phát triển: Việt Nam đang yêu cầu một hệ thống tài chính chủ yếu dựa vào ngân hàng, các tổ chức tài chính này đang thực hiện quá nhiều nhiệm vụ, mà những nhiệm vụ này về bản chất là thuộc về một hệ sinh thái vốn dài hạn.

Do đó, bài toán nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển không đơn thuần là làm thế nào để ngân hàng cho sản xuất vay nhiều hơn. Câu hỏi quan trọng hơn là làm thế nào để nền kinh tế có được "vốn kiên nhẫn" cho một quá trình phát triển cần nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên.

Cần bắt đầu từ một phân biệt căn bản: tiền không đồng nghĩa với vốn. Một nền kinh tế có thể có thanh khoản lớn, tăng trưởng tín dụng cao nhưng vẫn thiếu vốn phát triển nếu tiền không được chuyển hóa thành nhà máy, công nghệ, nguồn nhân lực, hạ tầng, nghiên cứu và những năng lực sản xuất có khả năng tạo ra giá trị gia tăng trong tương lai.

Nói cách khác, vấn đề không nằm ở chỗ nền kinh tế có bao nhiêu tiền, mà ở khả năng biến tiền thành tư bản sản xuất. Đây là một vấn đề của chính sách công bởi cơ chế chuyển hóa đó phụ thuộc rất lớn vào thể chế, luật chơi, cấu trúc thị trường, định hướng phát triển và cách Nhà nước phân bổ rủi ro giữa các chủ thể trong nền kinh tế.

Ông có thể làm rõ hơn tại sao ngân hàng lại không phù hợp để đảm nhiệm những khoản đầu tư dài hạn mà doanh nghiệp sản xuất cần?

Hãy hình dung một doanh nghiệp muốn xây dựng một nhà máy có vòng đời 20 năm. Từ chuẩn bị đất đai, xây dựng, nhập thiết bị, đào tạo nhân lực, thử nghiệm sản phẩm đến khi nhà máy đạt công suất thiết kế có thể mất nhiều năm.

Chuyên gia Huỳnh Hồ Đại Nghĩa: "Muốn chuyển từ tăng trưởng dựa vào tín dụng sang tăng trưởng dựa trên năng lực sản xuất, Việt Nam cần hình thành "vốn kiên nhẫn" và một hệ sinh thái tài chính đa kênh". Ảnh: Nguyệt Hà.
Chuyên gia Huỳnh Hồ Đại Nghĩa: "Muốn chuyển từ tăng trưởng dựa vào tín dụng sang tăng trưởng dựa trên năng lực sản xuất, Việt Nam cần hình thành "vốn kiên nhẫn" và một hệ sinh thái tài chính đa kênh". Ảnh: Nguyệt Hà.

Một doanh nghiệp muốn nghiên cứu một công nghệ mới có thể phải đầu tư liên tục trong 5 năm hoặc 7 năm trước khi có sản phẩm thương mại. Một doanh nghiệp Việt Nam muốn trở thành nhà cung cấp cấp một cho tập đoàn đa quốc gia có thể phải đầu tư trước vào công nghệ, tiêu chuẩn, nhân lực và hệ thống quản trị trong nhiều năm mới bắt đầu thu được kết quả. Đây đều là những hoạt động mà lợi ích xã hội và kinh tế nằm trong tương lai, trong khi chi phí phải bỏ ra là ngay hôm nay.

Nếu nguồn vốn chủ yếu cho các nhu cầu như vậy vẫn phải đến từ hệ thống ngân hàng, chúng ta sẽ gặp một giới hạn mang tính cấu trúc. Ngân hàng huy động phần lớn nguồn lực từ tiền gửi có thời hạn tương đối ngắn. Hiện hệ thống ngân hàng vẫn sử dụng nguồn tiền này để cho vay dài hơi. Tuy nhiên, tài trợ toàn bộ những khoản đầu tư có thời gian hoàn vốn 10, 15 hay 20 năm là câu chuyện khác.

Tôi cho rằng sẽ có hai tình huống xảy ra trong trường hợp này: nếu ngân hàng quá thận trọng, doanh nghiệp sẽ thiếu vốn; nếu ngân hàng mở rộng quá mạnh tín dụng dài hạn, rủi ro kỳ hạn và rủi ro hệ thống sẽ gia tăng. Và nếu Nhà nước liên tục giải quyết vấn đề bằng cách thúc đẩy thêm tín dụng, nền kinh tế sẽ ngày càng phụ thuộc vào tăng trưởng tín dụng mà chưa chắc tạo được năng lực sản xuất tương ứng.

Điều đáng bàn ở đây không đơn thuần là vấn đề tài chính mà là một bài toán phân công thể chế. Chúng ta đang sử dụng một công cụ là tín dụng ngân hàng để thực hiện quá nhiều mục tiêu phát triển khác nhau: vốn lưu động sáu tháng, nhà máy 15 năm, nghiên cứu và phát triển (R&D) 7 năm, hạ tầng 30 năm, hay một startup công nghệ. Tất cả đều có cấu trúc rủi ro và thời gian hoàn vốn khác nhau.

Một chính sách công phù hợp, hiệu quả không cố gắng đưa tất cả những nhu cầu đó vào cùng một kênh vốn, thay vào đó cần xây dựng một hệ sinh thái tài chính trong đó mỗi loại nhu cầu được tài trợ bằng loại vốn phù hợp nhất.

TỪ NHÀ MÁY, R&D TỚI CÔNG NGHỆ CAO: ĐẦU TƯ DÀI HẠN CẦN HỆ SINH THÁI VỐN

Vậy theo ông, hệ sinh thái vốn đó cần được thiết kế như thế nào, và vốn kiên nhẫn có nghĩa là gì trong thực tiễn chính sách?

Đây chính là lý do Việt Nam cần chuyển từ tư duy bank-based financing (tài trợ dựa vào ngân hàng) sang một cấu trúc rộng hơn gồm: ngân hàng, thị trường trái phiếu, vốn cổ phần, quỹ đầu tư và các nhà đầu tư tổ chức. Nhưng nhìn từ góc độ chính sách, chuyển dịch này không nên được hiểu đơn thuần là "phát triển thêm các sản phẩm tài chính".

Về bản chất, đây là một phần của chiến lược chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Nếu Việt Nam muốn bước từ gia công sang sản xuất có giá trị gia tăng cao, từ tăng trưởng dựa vào thu hút FDI sang nâng cấp doanh nghiệp trong nước, hay từ thâm dụng lao động và đất đai sang tăng hàm lượng công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất, thì cấu trúc vốn của nền kinh tế cũng phải thay đổi tương ứng.

Một nền kinh tế dựa nhiều vào thương mại, xây dựng và những ngành có chu kỳ thu hồi vốn ngắn có thể vận hành khá tốt với tín dụng ngân hàng. Nhưng bán dẫn, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, năng lượng sạch, hàng không - vũ trụ hay công nghiệp tiên tiến đều cần một đặc điểm chung: thời gian. Có những khoản đầu tư hôm nay chỉ tạo ra năng suất sau nhiều năm.

Hoặc thực tế hơn là có những nghiên cứu sẽ thất bại. Sẽ có những doanh nghiệp phải chịu lỗ trong giai đoạn đầu để xây dựng công nghệ, thị trường và năng lực cạnh tranh. Nếu chính sách chỉ tạo điều kiện cho loại vốn đòi hỏi dòng tiền trả nợ đều đặn trong ngắn hạn, nền kinh tế sẽ tự nhiên ưu tiên những hoạt động tạo dòng tiền nhanh hơn những hoạt động tạo năng suất dài hạn.

VnEconomy

"Vốn kiên nhẫn không phải tiền rẻ, cũng không phải vốn dễ dãi. Đây là nguồn vốn có khả năng chờ đủ lâu để một khoản đầu tư có ích cho nền kinh tế trưởng thành. Dự án có thể chấp nhận thời gian hoàn vốn dài hơn, rủi ro cao hơn hoặc thanh khoản thấp hơn, nhưng vẫn đòi hỏi doanh nghiệp phải minh bạch, có trách nhiệm và tạo ra giá trị một cách bền vững. Vốn kiên nhẫn phải đi cùng kỷ luật thị trường và kỷ luật chính sách." 

Chuyên gia chính sách công Huỳnh Hồ Đại Nghĩa Chuyên gia chính sách công, Trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Nhìn như vậy, thiếu vốn kiên nhẫn còn phản ánh một khoảng trống trong chính sách phát triển. Một nền kinh tế muốn công nghiệp hóa phải giải quyết bài toán ai sẽ chịu phần rủi ro ban đầu của quá trình nâng cấp. Doanh nghiệp tư nhân khó có thể tự mình gánh toàn bộ chi phí R&D, đào tạo nhân lực, xây dựng chuỗi cung ứng hoặc đầu tư vào những ngành mới mà lợi ích lan tỏa ra cả nền kinh tế. Ngân hàng lại không phù hợp để chịu rủi ro công nghệ quá lớn. Vì vậy, Nhà nước phải đóng vai trò tạo lập thể chế và chia sẻ một phần rủi ro, nhưng không nên thay thị trường lựa chọn doanh nghiệp chiến thắng.

Vĩnh Long dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng 10% cả năm 2026

Trong 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Vĩnh Long đạt gần 2 tỷ USD, tăng 13,56% so với cùng kỳ. Địa phương đang tập trung mở rộng thị trường để tạo động lực cho những tháng cuối năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng GRDP quý 3 ở mức 12,77% và cả năm 2026 đạt 10%...

Thuế Section 301 tạo áp lực cạnh tranh mới cho thủy sản Việt Nam

VASEP nhận định thuế Section 301 tại Hoa Kỳ đang tạo ra mặt bằng cạnh tranh mới cho thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, yếu tố quyết định không chỉ là mức thuế 12,5% mà là tổng chi phí đưa sản phẩm vào thị trường Hoa Kỳ, gồm thuế MFN, Section 301, AD/CVD nếu có, cùng chi phí logistics và các yêu cầu kỹ thuật...

Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy