TS Trương Anh Dũng, Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội chia sẻ quan điểm này khi tham luận tại Tọa đàm Bảo đảm an sinh xã hội và nguồn cung lao động trong quá trình phục hồi kinh tế, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2021, chiều 5/12.
Dẫn kết quả từ Báo cáo “Tương lai việc làm” được Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) công bố gần đây, ông Trương Anh Dũng cho biết, bất chấp tình hình kinh tế suy thoái hiện nay, phần lớn các nhà tuyển dụng đều nhận ra giá trị của việc đầu tư vào nguồn vốn con người.
Một báo cáo khác cũng được công bố tại diễn đàn này cho rằng, việc đầu tư quy mô rộng vào đào tạo nâng cao kỹ năng có tiềm năng thúc đẩy GDP tăng thêm 0,5-2%, tương đương với 6,5 nghìn tỷ USD vào năm 2030. Nhất là trong bối cảnh chỉ có 21% doanh nghiệp được khảo sát cho biết có thể sử dụng ngân sách của mình để hỗ trợ đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho nhân viên của họ.
Đối với Việt Nam, hiện đang ở thời kỳ dân số vàng với khoảng 55 triệu lao động, nhưng theo ông Dũng “điểm nghẽn” lại chính là chất lượng nguồn nhân lực, khi chỉ có khoảng 24,5% lao động có bằng cấp chứng chỉ.
Chỉ số kỹ năng và chất lượng đào tạo nghề tuy đã gia tăng ấn tượng trong thời gian vừa qua, tăng cao nhất trong ASEAN, nhưng trong xếp loại chung thì Việt Nam chỉ đứng ở vị trí 97/141 nước được xếp hạng, còn khoảng cách rất xa so với các nước Đông Bắc Á và ASEAN.
Trong khi đó, tỷ lệ người lao động được đào tạo trình độ đại học trở lên, nhưng làm những công việc đòi hỏi vị trí việc làm ở trình độ cao đẳng trở xuống lại tăng nhanh, trong 10 năm qua, tỷ lệ này tăng từ 2% lên đến 25%.
“Đây là một trong những nguyên nhân khiến năng suất lao động của chúng ta vẫn còn rất thấp, dù tăng trưởng kinh tế khá cao trong hơn 2 thập kỷ vừa qua. Chúng ta sẽ “hết giờ” để tranh thủ thời cơ dân số vàng và bắt kịp với các nền kinh tế mới nổi trong khu vực, nếu không tăng tốc đầu tư vào nguồn vốn con người và phát triển nhân lực có kỹ năng”, ông Dũng đánh giá.
Ông cũng cũng cho rằng, bốn đợt dịch bệnh Covid-19 tại Việt Nam vừa qua đã gây sức ép nặng nề về mọi mặt cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và cho thị trường lao động nói riêng.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tính riêng trong quý 3/2021, cả nước có hơn 28,2 triệu người từ 15 tuổi trở lên hứng chịu ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, khoảng 1,3 triệu người đã phải rời TP.HCM và các tỉnh trọng điểm phía Nam để trở về quê.
“Các kịch bản phục hồi có thể khác nhau, nhưng chắc chắn nguy cơ thiếu hụt nguồn cung lao động, thậm chí đứt gãy chuỗi cung ứng lao động có kỹ năng nghề sẽ hiện hữu, nếu như chúng ta chậm tiến độ bao phủ vaccine, các cơ sở đào tạo chưa được mở cửa trở lại", ông Dũng dự báo.
Cũng theo một nghiên cứu mới đây giữa ManpowerGroup Việt Nam và Viện Khoa học Lao động và Xã hội (thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội), có tới 94% doanh nghiệp sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài có định hướng rõ ràng về việc tăng cường ứng dụng công nghệ mới trong hoạt động sản xuất trong 3 năm tới.
Tuy nhiên, theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp Việt Nam trong cách mạng công nghiệp 4.0, thì có tới 53% doanh nghiệp Việt Nam không dự báo được kỹ năng tương lai cần thiết cho lực lượng lao động của mình, 48% lao động phải đào tạo lại.
Để phục hồi thị trường lao động và phát triển, ông Dũng cho rằng, phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề vẫn là một trong những trụ cột hết sức quan trọng, bên cạnh tốc độ bao phủ vaccine. “Nếu chúng ta tập trung đúng mức vào trụ cột nâng cao kỹ năng và đổi mới công nghệ thì lò so tăng năng suất lao động có thể kích hoạt và bung ra mạnh mẽ”, ông Dũng nhìn nhận.
Trong trạng thái bình thường mới, chính kỹ năng lao động sẽ giúp cho các doanh nghiệp, ngành nghề có công nghệ mới, có năng suất lao động cao phục hồi và phát triển mạnh mẽ, qua đó giúp nền kinh tế thoát khỏi suy thoái và đi vào tăng trưởng theo chiều sâu, bền vững.
Về giải pháp, theo ông Dũng, trước mắt cần đẩy mạnh đào taọ bồi dưỡng kỹ năng nghề cho người lao động, việc này cần kéo dài ít nhất từ 1 – 2 năm trong chính sách hỗ trợ từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Bởi lẽ, mặc dù đây là chính sách kịp thời nhưng trong bối cảnh dịch bệnh vừa qua, đa số doanh nghiệp khi quay trở lại sản xuất thì đều thiếu hụt nguồn cung lao động, nên cần tập trung cho vấn đề sản xuất, do đó thời gian dành cho đào tạo hết sức hạn chế.
Đồng thời, cần bổ sung thêm các chính sách và nguồn lực để đặt hàng đào tạo kỹ năng tay nghề ngắn hạn cho đối tượng là học sinh, sinh viên và người lao động không thuộc đối tượng đào tạo của Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Việc này nhằm đáp ứng nhân lực có kỹ năng nghề của thị trường lao động, nhất là lao động ở các địa bàn, khu vực thành thị tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, nơi các chính sách hỗ trợ đào tạo cho vùng nghèo, vùng nông thôn mà các chương trình mục tiêu quốc gia chưa bao phủ tới.
Các chính sách này sẽ thu hút được lực lượng lớn lao động về quê do thất nghiệp, mất việc, việc đào tạo lại để họ quay trở lại các khu công nghiệp và các thành phố lớn đang thiếu hụt nhân lực trong thời gian ngắn nhất. Chính sách cũng giúp đáp ứng việc tuyển dụng lao động có kỹ năng nghề ngày càng tăng cao, để đón nhận các làn sóng đầu tư FDI mới dịch chuyển vào Việt Nam, cũng như sự chuyển dịch các công nghệ.
Về trung và dài hạn, ông Dũng cho rằng, cần phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt, hiện đại, trong đó cần chú trọng và nâng cao chất lượng hoạt động dự báo ngắn hạn, trung và dài hạn về nhu cầu nguồn nhân lực, việc làm và nhu cầu đào tạo trong từng lĩnh vực ngành, nghề. Đây sẽ là giải pháp hết sức căn cơ để xây dựng một chiến lược đào tạo dài hạn trong lĩnh vực này.
Bên cạnh đó, cần tăng nhanh quy mô đào tạo nghề, tập trung chuyển đổi số mạnh mẽ trong đào tạo để tối ưu hóa nguồn lực đầu tư và thích ứng với bối cảnh dịch bệnh trong thời gian tới. Đặc biệt, cần đa dạng hóa nguồn lực đầu tư để nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP), khuyến khích doanh nghiệp và khu vực tư nhân tham gia giáo dục nghề nghiệp.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh cần nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) nhằm tạo lập khung thể chế thuận lợi cho việc thử nghiệm các mô hình, chính sách và công nghệ mới; qua đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhưng vẫn bảo đảm quản lý nhà nước hiệu quả...
Việc bổ sung quy định về "quyền tiếp cận biển của người dân" trong Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) không chỉ bảo vệ lợi ích cộng đồng, mà còn mở ra cơ chế minh bạch cho các nhà đầu tư ven biển. Một hành lang pháp lý rõ ràng sẽ giúp doanh nghiệp chủ động tối ưu bài toán quy hoạch, hài hòa giữa trải nghiệm cao cấp của du khách với không gian sinh hoạt chung, từ đó phát triển bền vững và giảm thiểu rủi ro pháp lý trong quá trình vận hành...
Bộ Nội vụ cho biết lĩnh vực người có công với cách mạng hiện đang quản lý khối lượng rất lớn hồ sơ, dữ liệu về người có công, thân nhân người có công, mộ liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ và các chế độ ưu đãi...
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) sẽ siết chặt việc quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi cung ứng, được thực hiện trong suốt quá trình kinh doanh thực phẩm. Trên cơ sở phân tích nguy cơ trong từng khâu của chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, đảm bảo an toàn thực phẩm cho người dân...
Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) dự kiến trình Quốc hội vào tháng 10/2026 nhận được nhiều sự quan tâm nhờ những định hướng mới về quy hoạch và quản lý không gian biển. Dẫu vậy, để các dự án ngoài khơi thực sự đi vào đời sống, một số vướng mắc về cơ chế lựa chọn nhà đầu tư vẫn cần tiếp tục được tháo gỡ và hoàn thiện...
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Thị trường xuất khẩu 7 tháng qua ghi nhận hàng loạt mặt hàng bị sụt giảm như gạo, cà phê, sầu riêng… Chỉ còn chưa đầy 5 tháng để đạt được mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Chính phủ giao là 72,4 tỷ USD và phấn đấu vượt mốc 74 tỷ USD, hàng loạt các giải pháp chiến lược cần được gấp rút triển khai một cách đồng bộ, thực tế và hiệu quả.