Như VnEconomy đã đưa tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Bộ Công
an đã đề nghị truy tố với 7 bị can về tội Sản xuất hàng giả là thực phẩm, làm rõ
hành vi lập khống hồ sơ sản xuất nhằm che giấu việc sản xuất hàng giả tại Công ty Cổ phần Asia Life.
Đặc biệt, theo kết luận điều tra, trong vụ án này, cơ quan điều
tra đã chỉ ra nhiều bất cập pháp luật. Đơn cử như quy định cho phép doanh nghiệp tự công bố, tự chịu
trách nhiệm về chất lượng, thành phần các chất, tính năng, công dụng đối với đa
số sản phẩm; song thiếu cơ chế sàng lọc tiền kiểm, không gắn quy định trách nhiệm
cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước.
Điều này dẫn đến tình trạng nhiều sản phẩm “chỉ đăng ký cho
có”, chưa đảm bảo chất lượng lưu hành trên thị trường. Các cá nhân, tổ chức đã
lợi dụng để bỏ bớt các thành phần nguyên liệu chính tạo nên tính năng, công dụng
của sản phẩm; thay vào đó sử dụng nguyên liệu rẻ tiền, không rõ nguồn gốc, thậm
chí gây hại để thu lợi bất chính.
Đối với sản phẩm kẹo Kera, công thức sản xuất thực tế gồm 29
thành phần và khối lượng 10 loại bột rau củ chỉ chiếm 0,747%. Các bị can vẫn chỉ
đạo chuyển cho đơn vị lập hồ sơ thông tin chỉ còn 22 thành phần, nâng khống
thành phần rau củ lên 28%.
Dù mang tên kẹo rau, thành phần nền để tạo cấu trúc
sản phẩm thực tế lại là Sorbitol syrup 70% và đường cát sacharose, gelatin,
pectin, nước RO cùng nhiều phụ gia tạo gel, điều vị, tạo màu, tạo đục và ổn định
cấu trúc.
Bên cạnh đó, việc thực thi, hậu kiểm thực phẩm chức năng, thực
phẩm bổ sung chưa hiệu quả.
Nhiều thực phẩm được quảng bá, giới thiệu, công bố
như “thuốc” nhưng chỉ đăng ký dạng thực phẩm bổ sung để né tránh các yêu cầu
nghiêm ngặt về thử nghiệm lâm sàng, cấp phép lưu hành; gắn mác “hỗ trợ chữa bệnh”,
nhưng không chịu sự quản lý chặt như dược phẩm.
Cùng với đó, cơ chế tự công bố bộc lộ việc thiếu “chốt chặn”
kỹ thuật ban đầu để sàng lọc những hồ sơ bất thường. Việc công khai dữ liệu tự
công bố cũng chưa được thực hiện đầy đủ để kiểm tra giám sát.
Việc phân cấp, quản
lý hồ sơ công bố gây phân tán thông tin dẫn đến nhiều đối tượng chỉ kiểm nghiệm
qua loa vài chỉ tiêu, hoặc thậm chí thông đồng với các Trung tâm kiểm nghiệm được
cấp phép hoạt động để mua bán các phiếu thử nghiệm cho kết quả “đẹp” nhằm hợp
thức hóa hồ sơ.
“Thực tế, cơ quan quản lý chỉ phát hiện đến sai phạm sau khi
sản phẩm lưu thông và chỉ khi người dân tố giác, báo tin đến cơ quan có thẩm
quyền, dẫn đến sức khỏe người tiêu dùng bị lâm vào tình trạng rủi ro khi sử dụng
sản phẩm trong thời gian dài đến khi bị phát hiện”, kết luận điều tra nêu rõ.
Cũng theo cơ quan điều tra, hệ thống pháp luật về lĩnh vực
an toàn thực phẩm phân công nhiều bộ, ngành cùng quản lý an toàn thực phẩm như
Bộ Y tế phụ trách thực phẩm chức năng, dinh dưỡng đặc biệt; Bộ Nông nghiệp và
Môi trường phụ trách nông sản tươi sống; Bộ Công Thương phụ trách thực phẩm chế
biến nhưng trên thực tế có sản phẩm đa công dụng, khó phân định.
Trong khi đó, cơ chế phối hợp giữa các lực lượng (Quản lý thị
trường, Y tế, Hải quan, Thuế, Công an...) chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên
và kịp thời, thiếu cơ sở dữ liệu dùng chung để chia sẻ thông tin vi phạm.
Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an kiến nghị cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia
về công bố sản phẩm thực phẩm.
Điều này nhằm quản lý thống nhất thông tin về các sản phẩm
thực phẩm đã được công bố và đang lưu hành trên thị trường. Đồng thời tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và cơ
quan quản lý dễ dàng tra cứu, giám sát.
Hệ thống cơ sở dữ liệu cần bao gồm các thông tin cơ bản như: thông tin doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm; hồ sơ tự công bố sản phẩm và bản đăng ký công bố sản phẩm; phiếu kết quả kiểm nghiệm của các cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định; thông tin về thành phần, chỉ tiêu chất lượng, hàm lượng hoạt chất chính của sản phẩm; thông tin về nhãn sản phẩm, quảng cáo sản phẩm và công dụng được công bố; thông tin về kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm liên quan đến sản phẩm.