Kinh tế chăm sóc được hiểu là tất cả các hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ cho cá nhân, đặc biệt là trẻ em, người già và người khuyết tật, bao gồm cả hình thức có trả lương và không trả lương. Đây là lĩnh vực then chốt đảm bảo phúc lợi xã hội và sự phát triển của cộng đồng.
Tại Diễn đàn Kinh tế chăm sóc Việt Nam 2026, các chuyên gia đã khẳng định: "Việc đầu tư vào lĩnh vực này không chỉ là chi phí xã hội, mà là một chiến lược tạo giá trị kinh tế thực thụ".
Theo dự báo, đến năm 2034, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn dân số già, sớm hơn 2 năm so với nhận địnhtrước đó. Đến năm 2038, ước tính hơn 20% dân số sẽ trên 60 tuổi. Sự thay đổi này, cùng với xu hướng quy mô hộ gia đình nhỏ dần, đã tạo ra một nhu cầu khổng lồ về các dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp.
Nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng, cứ mỗi 1 USD đầu tư vào ngành chăm sóc có thể tạo ra tới 4 USD lợi ích kinh tế thông qua việc tăng năng suất lao động và tạo việc làm. Trên thế giới, kinh tế chăm sóc đóng góp trung bình khoảng 34% GDP.
Tại Việt Nam, khoảng 39,3% người cao tuổi và gia đình họ đã sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ chăm sóc chất lượng. Đây chính là "mỏ vàng" cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ.
Dù tiềm năng là rất lớn, nhưng thực tế nền kinh tế chăm sóc tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với những "điểm nghẽn" cố hữu.
Hiện nay, phụ nữ Việt Nam vẫn đảm nhận phần lớn công việc chăm sóc không lương, trung bình khoảng 3 giờ mỗi ngày, cao gấp gần hai lần so với nam giới. Tại khu vực nông thôn, khoảng 72% khối lượng công việc chăm sóc tại gia đình thuộc về phụ nữ. Sự chênh lệch này không chỉ tạo ra áp lực tâm lý mà còn hạn chế cơ hội tham gia thị trường lao động và thăng tiến của phái nữ.
Bên cạnh đó, Việt Nam đang rơi vào tình trạng "khủng hoảng thiếu" nhân lực ngành chăm sóc. Việt Nam chỉ có 16 điều dưỡng trên một vạn dân, thấp hơn rất nhiều so với Trung Quốc (35), Malaysia (33) hay Nhật Bản (hơn 100).
Một nghịch lý là nhân viên chăm sóc hiện đã có mã đào tạo, nhưng vẫn chưa có "mã nghề" chính thức. Điều này khiến nghề chăm sóc chưa được tôn trọng đúng mức, thu nhập bấp bênh và khó thu hút giới trẻ.
Đặc biệt, chảy máu chất xám vẫn đáng báo động, khoảng 3.000 điều dưỡng từng đi làm việc tại Nhật Bản (chương trình EPA) sau khi về nước đã không quay lại làm nghề do thiếu môi trường và chính sách đãi ngộ phù hợp.
Cùng với đó là rào cản nhận thức và hạ tầng. Nhiều người vẫn coi việc chăm sóc cha mẹ tại nhà hoàn toàn là "đạo hiếu" và nếu thuê người chăm sóc hoặc đưa vào viện dưỡng lão là thiếu hiếu thảo. Trong khi đó, hệ thống lão khoa hiện nay mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu thực tế. Cả nước chỉ có duy nhất một bệnh viện lão khoa cấp tỉnh tại Quảng Ninh và khoảng 20 cơ sở dưỡng lão tư nhân với chi phí khá cao.
Để hiện thực hóa tiềm năng của kinh tế chăm sóc, các ý kiến đều nhận định Việt Nam cần một chiến lược tổng thể và sự chung tay của bốn bên: Chính phủ - doanh nghiệp - cộng đồng - gia đình.
Ông Nguyễn Tuấn Ngọc, Giám đốc Trung tâm Bách Niên Thiên Đức, nhấn mạnh việc đầu tiên cần làm là phải ban hành "mã nghề" cho nhân viên chăm sóc.
“Khi chưa có mã nghề, chúng ta không thể xây dựng tiêu chuẩn đào tạo bài bản, không có thang bảng lương tương xứng và quan trọng nhất là không tạo ra được niềm tự hào nghề nghiệp. Điều này dẫn đến tình trạng hàng ngàn điều dưỡng chất lượng cao sau khi đi tu nghiệp tại Nhật Bản về nước đã chọn làm nghề khác hoặc tìm cách quay lại nước ngoài vì cảm thấy công việc tại Việt Nam không được coi trọng”, ông Ngọc trăn trở.
Đồng tình, ông Phạm Đức Mục, Chủ tịch Hiệp hội Điều dưỡng Việt Nam, đề xuất cần sớm xây dựng hệ thống chứng chỉ hành nghề và tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia cho lực lượng này. Việc chuyên nghiệp hóa không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn là cơ sở để bảo vệ quyền lợi, an sinh xã hội cho người lao động, biến công việc chăm sóc từ "việc làm tạm bợ" thành một sự nghiệp bền vững.
Thay vì tư duy tập trung toàn bộ nguồn lực vào các viện dưỡng lão quy mô lớn – vốn chỉ dành cho một bộ phận nhỏ dân số có thu nhập cao, TS. Phạm Vũ Hoàng, Phó Cục trưởng Cục Dân số (Bộ Y tế), gợi mở một hướng đi thực tế hơn: Mô hình "90-7-3". Theo đó, 90% người cao tuổi sẽ được chăm sóc tại gia đình, 7% tại các trung tâm cộng đồng ban ngày và chỉ 3% tại các cơ sở tập trung dành cho người cần hỗ trợ đặc biệt.
Để thực hiện điều này, Nhà nước cần đóng vai trò dẫn dắt bằng cách đầu tư vào hạ tầng y tế cơ sở và các trung tâm sinh hoạt cộng đồng tại phường, xã. Đây sẽ là nơi cung cấp dịch vụ chăm sóc ngắn hạn, tư vấn sức khỏe và kết nối các tình nguyện viên. Khi mạng lưới cộng đồng đủ mạnh, áp lực lên các bệnh viện tuyến trên và gánh nặng của các gia đình sẽ giảm đi đáng kể.
Ông Nguyễn Hải Đạt, Điều phối viên Chương trình Quốc gia về An sinh Xã hội, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nhấn mạnh rằng cốt lõi của việc hóa giải điểm nghẽn nằm ở khung giải pháp 5R, bao gồm: Recognize (Ghi nhận) - công nhận giá trị kinh tế của công việc chăm sóc; Reduce (Giảm thiểu) - giảm bớt gánh nặng công việc chăm sóc không tên thông qua hạ tầng hỗ trợ; Redistribute (Phân phối lại) - chia sẻ trách nhiệm giữa nam và nữ, giữa gia đình và Nhà nước; Reward (Đãi ngộ)- trả công xứng đáng và đảm bảo an sinh xã hội cho người làm nghề; Representation (Đại diện) - thúc đẩy tiếng nói của người lao động trong ngành.
Cuối cùng, không thể thiếu vai trò của đầu tư công và chuyển đổi số. Các chuyên gia kiến nghị Chính phủ cần có các gói tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực kinh tế chăm sóc, đặc biệt là các nền tảng ứng dụng kết nối dịch vụ (Agetech). Việc ứng dụng công nghệ để quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử, bác sĩ từ xa hay các thiết bị giám sát thông minh sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực nhân sự đang thiếu hụt, đồng thời giảm chi phí cho người dân.
Khi nhiều người đã chọn cuộc sống an nhàn bên con cháu, vợ chồng bà Lê Thị Hạt ở thôn Yên Thịnh, xã Ngọc Trạo (Thanh Hóa) vẫn ngày ngày cần mẫn với công việc đồng áng. Trên 7 sào đất quê, hơn 1.000 cây ổi Lê xanh tốt không chỉ mang lại nguồn thu khoảng 200 triệu đồng mỗi năm, mà còn là thành quả của sự kiên trì, chịu khó và niềm vui lao động ở tuổi xế chiều.
Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ gắn với khu thương mại tự do được xác định là một trong những động lực hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế biển của TP. Hồ Chí Minh. Cùng với cảng biển và logistics, thành phố đặt mục tiêu phát triển đồng bộ các ngành kinh tế biển, hạ tầng kết nối, khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường biển…
Trong 10 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 63,02 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước. Rau quả, thủy sản, sản phẩm chăn nuôi tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng tích cực, trong khi cà phê, gạo và cao su chịu áp lực giảm giá trị xuất khẩu...
Việc chuyển đổi từ kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn là bài toán chiến lược nhằm bảo đảm an ninh tài nguyên và hướng tới Net Zero vào năm 2050. Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất công nghiệp vẫn vướng phải nhiều "điểm nghẽn" về định danh chất thải, hạ tầng tái chế và cơ chế tài chính...
Sự kết hợp giữa hạ tầng pháp lý minh bạch và động lực kinh tế sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng môi trường kinh doanh liêm chính, bền vững cho Việt Nam trong giai đoạn tới…
Chuyển đổi xanh ngành lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ đòi hỏi giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo mà còn phải bảo đảm sinh kế và phân chia lợi ích công bằng. Dự án GORICE hướng tới phát triển chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, đồng thời trao quyền cho phụ nữ, người dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế tham gia, hưởng lợi bình đẳng.
Trưa ngày 4/11, tại Họp báo Chính phủ thường kỳ, việc điều chỉnh thuế TTĐB đối với xăng về 0% và giảm giá bán lẻ điện 2% tác động như thế nào tới CPI; kịch bản điều hành giá để kiểm soát CPI theo mục tiêu hai tháng cuối năm... được Lãnh đạo Bộ Tài chính làm rõ.