Hai loại lãi suất chính sách là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn hiện đã giảm 1,5% - giảm gần hết phần đã tăng thông qua 2 lượt tăng lãi suất của Ngân hàng Nhà nước vào năm 2022.
Ngày 24/5, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,02 – 0,08 % ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên trước đó. Cụ thể: qua đêm 4,34%; 1 tuần 4,5%; 2 tuần 4,58% và 1 tháng 4,8%.
Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD tăng 0,01 - 0,03 % ở các kỳ hạn ngắn trong khi đi ngang ở kỳ hạn 2 tuần và giảm 0,03 % ở kỳ hạn 1 tháng. Giao dịch tại: qua đêm 4,84%; 1 tuần 4,92%; 2 tuần 5,02%, 1 tháng 5,15%.
Phiên 24/5, lợi suất trái phiếu chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng ở hầu hết các kỳ hạn ngoại trừ giảm ở kỳ hạn 5 năm. Cụ thể: 3 năm 2,47%; 5 năm 2,48%; 7 năm 2,73%; 10 năm 3,04%; 15 năm 3,15%.
Theo thống kê của Nhóm nghiên cứu MSB, ngày 24/5, Ngân hàng Nhà nước chào thầu ở hai kỳ hạn 7 ngày và 28 ngày, khối lượng 10.000 tỷ đồng/ kỳ hạn đều với lãi suất giảm xuống mức 4,5%. Không có khối lượng trúng thầu ở cả hai kỳ hạn; không có đáo hạn. Ngân hàng Nhà nước không chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, có 10.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 10.000 tỷ đồng ra thị trường trong phiên 24/5, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố giữ ở mức 1.481,84 tỷ đồng, khối lượng tín phiếu lưu hành giảm xuống mức 60.699,8 tỷ đồng.
Ngày 23/5, trên kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước duy trì chào thầu ở hai kỳ hạn 7 ngày và 28 ngày, khối lượng 10.000 tỷ đồng/ kỳ hạn đều với lãi suất 5%. Có 547,61 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 7 ngày, không có khối lượng trúng thầu ở kỳ hạn 28 ngày; có 753,48 tỷ đồng đáo hạn.
Ngân hàng Nhà nước không chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, có 10.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 9.794,13 tỷ đồng ra thị trường, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố giảm xuống mức 1.481,84 tỷ đồng, khối lượng tín phiếu lưu hành giảm xuống mức 70.699,8 tỷ đồng.
Ngày 22/5, trên kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước chào thầu ở hai kỳ hạn 7 ngày và 28 ngày, khối lượng 10.000 tỷ đồng/kỳ hạn và đều với lãi suất 5%. Không có khối lượng trúng thầu ở cả hai kỳ hạn; không có đáo hạn. Ngân hàng Nhà nước không chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, có 10.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 10.000 tỷ đồng ra thị trường, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố giữ ở mức 1.687,71 tỷ đồng, khối lượng tín phiếu lưu hành giảm xuống mức 80.699,8 tỷ đồng.
Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước đã đảm bảo thanh khoản hệ thống dồi dào, giúp mặt bằng lãi suất liên ngân hàng giảm liên tiếp trong 3 phiên đầu tuần, ổn định ở các kỳ hạn dưới 1 tháng.
Theo SSI, trong tuần này, khối lượng tín phiếu đáo hạn ước tính lên đến 49.000 tỷ đồng và tiếp tục là yếu tố giúp hỗ trợ thanh khoản.
Hai loại lãi suất chính sách là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn hiện đã giảm 1,5% - giảm gần hết phần đã tăng thông qua 2 lượt tăng lãi suất của Ngân hàng Nhà nước vào năm 2022.
Từ ngày 25/5, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất cho vay qua đêm đối với tổ chức tín dụng từ 6%/năm xuống 5,5%/năm; lãi suất tái cấp vốn giảm từ mức 5,5%/năm xuống 5%/năm; lãi suất tái chiết khấu giữ nguyên ở mức 3,5%/năm.
Ngoài ra, theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giữ nguyên ở mức 0,5%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm từ mức 5,5%/năm xuống 5%/năm.
Quyết định hạ lãi suất được đưa ra trong bối cảnh kinh tế vĩ mô chịu nhiều áp lực: kim ngạch xuất nhập khẩu suy giảm, chỉ số quản trị nhà mua hàng (PMI) giảm xuống mức 46,7 điểm và đặc biệt là số lượng các doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và doanh nghiệp tạm dừng hoạt động chờ giải thể tăng đột biến so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo các chuyên gia, xét trên góc độ tổng thể, hai loại lãi suất chính sách là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn hiện đã giảm 1,5% - giảm gần hết phần đã tăng thông qua 2 lượt tăng lãi suất của Ngân hàng Nhà nước vào năm 2022.
Việc tiếp tục giảm mức trần lãi suất tiền gửi các kỳ hạn sẽ tạo tiền đề để các ngân hàng thương mại giảm lãi suất tín dụng trong thời gian tới, từ đó hỗ trợ chi phí vốn cho doanh nghiệp trong bối cảnh một loạt chi phí sản xuất khác là giá điện đã tăng 3%.
Song, để giảm mặt bằng lãi vay, các chuyên gia cho rằng cần thêm thời gian để nền kinh tế “thẩm thấu” chính sách.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.
Áp lực phát hành lớn cùng biến động tiền tệ đang đẩy thị trường trái phiếu Chính phủ vào mặt bằng lãi suất cao hơn. Với tỷ lệ trúng thầu tháng 6 chỉ 34,4% và lãi suất bình quân lên 4,25%/năm, các chuyên gia đánh giá lợi suất được dự báo khó có thể hạ nhiệt trong nửa cuối năm…
Giới đầu tư toàn cầu đang đặt cược mạnh vào sự tăng giá của đồng USD, cho thấy tâm lý lạc quan trước xu hướng tăng vững gần đây của đồng tiền này trong thời gian gần đây...
Đồng USD tăng giá mạnh cũng là một nguồn áp lực mất giá quan trọng đối với vàng...
Sự leo thang lạm phát này có thể khiến Ngân hàng Trung ương Nga (CBR) phải tạm dừng chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ trong cuộc họp chính sách tiếp theo...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.