![[Bài 1] Hải Phòng: Động lực bứt phá từ “cơ chế đặc thù”](https://premedia.vneconomy.vn/files/uploads/2026/07/22/62993955c01843498ed47306a39d35f0-106602.jpg?w=600&h=360&mode=crop)
Dự thảo Thông tư quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, bổ nhiệm và xếp lương viên chức tư vấn học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trường chuyên biệt công lập, bao gồm: trường tiểu học; trường trung học cơ sở; trường trung học phổ thông; trường phổ thông có nhiều cấp học; trường trung học phổ thông chuyên; trường phổ thông dân tộc nội trú; trường phổ thông dân tộc bán trú; trường, lớp dành cho người khuyết tật.
Dự thảo Thông tư này quy định, chức danh nghề nghiệp viên chức tư vấn học sinh bao gồm: Viên chức tư vấn học sinh hạng III (mã số V.07.07.24.); Viên chức tư vấn học sinh hạng II (mã số V.07.07.23.); Viên chức tư vấn học sinh hạng I (mã số V.07.07.22.).
Theo đó, bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp viên chức tư vấn học sinh hạng III đối với viên chức được tuyển dụng vào vị trí việc làm viên chức tư vấn học sinh và đáp ứng yêu cầu về tập sự theo quy định hoặc đang làm công tác tư vấn học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập, đủ tiêu chuẩn quy định.
Viên chức tư vấn học sinh hạng III được bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp viên chức tư vấn học sinh hạng II khi được xác định là người trúng tuyển trong kỳ xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức tư vấn học sinh từ hạng III lên hạng II.
Viên chức tư vấn học sinh hạng II được bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp viên chức tư vấn học sinh hạng I khi được xác định là người trúng tuyển trong kì xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức tư vấn học sinh từ hạng II lên hạng I.
Dự thảo quy định: Viên chức được bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp viên chức tư vấn học sinh quy định tại Thông tư này được áp dụng bảng lương viên chức tại bảng 3 (bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, cụ thể như sau:
Chức danh nghề nghiệp viên chức tư vấn học sinh hạng III được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A1, từ hệ số lương 2,34 đến hệ số lương 4,98.
Chức danh nghề nghiệp viên chức tư vấn học sinh hạng II được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, từ hệ số lương 4,00 đến hệ số lương 6,38.
Chức danh nghề nghiệp viên chức tư vấn học sinh hạng I được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, từ hệ số lương 4,40 đến hệ số lương 6,78.
Việc chuyển xếp lương đối với trường hợp khi tuyển dụng, bổ nhiệm vào chức danh viên chức tư vấn học sinh đang là công chức, viên chức chuyên ngành khác thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 02/2007/TT-BNV ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn xếp lương khi nâng ngạch, chuyển ngạch, chuyển loại công chức, viên chức và theo quy định hiện hành của pháp luật. Khi thực hiện chính sách tiền lương mới, việc xếp sang lương mới thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh năm học 2026-2027 phải tạo chuyển biến thực chất, lấy kết quả làm thước đo, đồng thời xác định mục tiêu xây dựng nền giáo dục công bằng, chất lượng và trung thực...
Bão đang tiến gần Biển Đông, trong khi Bắc Bộ tiếp tục đối mặt với một đợt mưa lớn kéo dài, làm gia tăng nguy cơ lũ quét, sạt lở đất và ngập úng tại nhiều địa phương. Các cơ quan chức năng đã phát đi cảnh báo, đồng thời triển khai các biện pháp ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai...
Dự án được Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ không hoàn lại thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức, với tổng vốn 15 triệu Euro. Thời gian triển khai đến 30/12/2030...
Nhu cầu tuyển dụng lao động quý 2/2026 có sự dịch chuyển động lực giữa hai trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, khi Hà Nội đã vươn lên dẫn đầu cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng tuyển dụng, phản ánh xu hướng mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp tại khu vực phía Bắc…
Qua tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy có 47 nội dung không rõ ràng, gây khó khăn, vướng mắc, tạo “điểm nghẽn” trong áp dụng, thực hiện pháp luật, cản trở quá trình phát triển...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.