
Trong báo cáo triển vọng thị trường tháng 8, Mirae Asset cho biết, mặc dù dịch bệnh tác động đến 2 tháng cuối quý 2, mức tăng trưởng lợi nhuận quý 2 vẫn duy trì ở mức cao.
Tính đến ngày 30/7, hơn 70% doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE đã có báo cáo kết quả kinh doanh quý 2, chiếm khoảng 92% vốn hóa. Ước tính tổng lợi nhuận sau thuế quý 2 tăng hơn 59% so với cùng kỳ, lũy kế 6 tháng đầu năm tăng khoảng 69% so với cùng kỳ. Trong đó, hầu hết các ngành đều duy trì được đà tăng 2 chữ số, ngoại trừ ngành Dịch vụ tiêu dùng (-48%), ngành Bảo hiểm (-16%), và ngành Thực phẩm đồ uống ( 2%).
Thời gian kiểm soát dịch càng lâu càng ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Mirae Asset kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS) của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE sẽ tăng hơn 33% trong năm 2021 trong trường hợp lạc quan nhất dịch bệnh sớm được kiểm soát trong tháng 8.
Ngược lại, trong trường hợp xấu, dịch bệnh kéo dài đến cuối tháng 10, mức tăng trưởng EPS chỉ kỳ vọng ở mức 28%.
Tương ứng với mức tăng EPS kỳ vọng, Mirae Asset điều chỉnh dự phóng VN-Index trong khoảng 1222 đến 1440 điểm đến cuối năm, với mục tiêu cơ sở là 1350 điểm. Việc kiểm soát dịch nhanh hay chậm đang là biến số đối với nền kinh tế chung, hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng. Do đó, kỳ vọng độ biến động của thị trường trong ngắn hạn sẽ tiếp tục gia tăng.
Định giá theo phương pháp lịch sử, sau khi thị trường điều chỉnh mạnh và thị trường bắt đầu hấp thụ kết quả tăng trưởng lợi nhuận quý 2, hiện tại VN-Index đang giao dịch ở mức P/E 16,8 lần, dưới đường trung bình 10 năm cộng 1 độ lệch chuẩn (17,3x). Xem xét vùng đỉnh định giá trước đó được thiết lập vào tháng 4/2018 là tại mức P/E 22 lần, mức định giá hiện tại thấp hơn 31%. Do đó, mức định giá P/E hiện nay đã quay về mức hấp dẫn.
Về định giá tương đối, sau khi điều chỉnh mạnh trong tháng 7, tính chung, VN-Index tăng gần 19% kể từ đầu năm, vượt trội hơn hết so với nhiều thị trường khác như Mỹ ( 18%), Đài Loan ( 17%), Hàn Quốc ( 11%), Singapore ( 11%), chỉ số MSCI các thị trường cận biên ( 12%), MSCI các thị trường phát triển ( 18%). Với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) vượt trội và tiềm tăng trưởng EPS cao, mức định giá của VN-Index được định vị trong vùng tương đối thấp.
Hiện tại, tiêu dùng trong nước có dấu hiệu chậm lại và bị tác động đáng kể bởi dịch bệnh; trong khi đó, dòng vốn FDI, xuất khẩu, đầu tư công tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Sẽ có sự phân hóa về tăng trưởng. Với các công ty sản xuất tôn mạ như HSG, NKG duy trì khuyến nghị tích cực nhờ tỷ trọng xuất khẩu/tổng doanh thu đạt trên 60%. Với các công ty sản xuất thép xây dựng nội địa như HPG hay POM, ảnh hưởng sẽ lớn hơn. Tuy nhiên, MAS cho rằng 2021 vẫn là một năm tăng trưởng tích cực đối với các công ty trong ngành. Bên cạnh đó, nhu cầu hồi phục hậu Covid-19 sẽ tạo lực đỡ cho ngành trong giai đoạn 2022 trở đi.
Thay đổi mấu chốt của phiên hôm nay là nhịp kéo giá các cổ phiếu trụ ngân hàng ngay đầu phiên chiều. Buổi sáng chính nhóm này triệt tiêu sức mạnh của VIC và VHM. Điểm tích cực là nhịp kéo này được hưởng ứng khá tốt.
15 phút đầu tiên của phiên chiều nay đã xoay chuyển hoàn toàn cục diện bán tháo và lao dốc của cổ phiếu. Trong khi VIC, VHM vẫn chưa kịp phản ứng thì loạt blue-chips ngân hàng được kéo thốc giá. VN-Index phục hồi mạnh 1,4% chỉ trong thời gian rất ngắn này, tạo đà cho toàn bộ nhịp tăng còn lại.
Sự phục hồi mạnh của VIC và VHM đang giúp VN-Index điều chỉnh rất nhẹ trong phiên sáng nay. Tuy nhiên cổ phiếu đang thể hiện bức tranh khác khi tới trên 56% các mã có giao dịch của chỉ số đã lao dốc quá 1% giá trị, trong đó gần 130 mã giảm quá 2%.
Ngoài khả năng hưởng lợi từ nền lãi suất cao, lượng tiền mặt dồi dào còn tạo điều kiện để doanh nghiệp nắm bắt các cơ hội tăng trưởng trong tương lai.
Trong phiên giao dịch ngày 22/7, tỷ giá đồng yên Nhật Bản so với đồng USD giảm xuống mức đáy mới của 40 năm qua. Sức ép mất giá đối với yên tăng thêm khi chiến lược kinh tế mới của Thủ tướng Sanae Takaichi khiến nhà đầu tư lo ngại về sức khỏe nền tài khóa của Nhật Bản...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.