Sáng 25/6, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Cụ thể, số đại biểu tham gia biểu quyết là 456, trong đó tán thành là 452 đại biểu, có 1 đại biểu không tán thành và 3 đại biểu không biểu quyết.
Trước khi biểu quyết, ông Phan Xuân Dũng, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội đã trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội về dự thảo luật này.
Theo báo cáo này, về quản lý tài nguyên hải đảo, có ý kiến đề nghị cần có quy định về chính sách khuyến khích ngư dân ra biển làm ăn, khai thác nguồn lợi từ biển, đảo.
Tiếp thu ý kiến này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo bổ sung chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Đây cũng là nội dung đã được quy định trong Luật biển Việt Nam và Luật thủy sản đã được ban hành.
Đối với vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, ứng phó và khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển, có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về phòng ngừa sự cố tràn dầu trên biển vì dự thảo Luật trước đó chỉ mới đề cập đến việc ứng phó và khắc phục sự cố.
Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị bổ sung quy định các cảng biển phải có hệ thống tiếp nhận và xử lý chất thải là nước dằn tàu, nước súc rửa tàu từ các phương tiện trên biển.
Các ý kiến này đều đã được tiếp thu vào dự thảo luật trên tinh thần có tham chiếu đầy đủ với các văn bản pháp luật khác liên quan.
Đáng chú ý là có ý kiến cho rằng Dự thảo Luật quy định trách nhiệm của các Bộ, ngành chưa rõ, việc phân cấp cho các địa phương có biển trong hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và BVMT biển và hải đảo chưa cụ thể.
Theo ông Phan Xuân Dũng, trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành trong quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo đối với các loại tài nguyên cụ thể đã được quy định và thực hiện theo pháp luật chuyên ngành như về thủy sản, khoáng sản, dầu khí, du lịch...
Tuy nhiên, trong luật này chỉ tập trung quy định về các công cụ, cơ chế, chính sách điều phối, phối hợp liên ngành, liên vùng; giao Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, Bộ Tài nguyên Môi trường chịu trách nhiệm chung trước Chính phủ.



Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đề nghị thúc đẩy quan hệ đầu tư Việt Nam - Nhật Bản chuyển mạnh từ quan hệ giữa “nhà đầu tư và địa điểm đầu tư” sang quan hệ đối tác cùng phát triển và kiến tạo, cùng nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam và Myanmar thống nhất tăng cường kết nối, bổ trợ giữa hai nền kinh tế, mở rộng hợp tác trong thương mại, đầu tư, chuyển đổi số, nông nghiệp, logistics và công nghệ cao, tạo thêm dư địa cho cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Ngày 5/9, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã hội kiến Tổng thống Cộng hòa Liên bang Myanmar Min Aung Hlaing đang thăm chính thức Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Myanmar Min Aung Hlaing khẳng định quyết tâm làm sâu sắc quan hệ hữu nghị truyền thống, thúc đẩy hợp tác kinh tế, đầu tư, kết nối doanh nghiệp và giao lưu văn hóa giữa hai nước.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Tổng thống Myanmar Min Aung Hlaing nhất trí tăng cường tin cậy chính trị, đưa hợp tác quốc phòng, an ninh trở thành một trụ cột của hợp tác song phương, đồng thời thúc đẩy thương mại, đầu tư và sớm khôi phục đường bay thẳng giữa hai nước.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.