Mới đây, một nữ bệnh nhân 55 tuổi, ung thư vú giai đoạn cuối, tràn dịch màng phổi, đã đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM. Các bác sĩ xác định bà Dung bị ung thư vú thể Her2 dương, quyết định điều trị bằng thuốc trúng đích thế hệ mới.
Thuốc liên hợp kháng thể (ADC) thế hệ mới kết hợp giữa kháng thể nhắm trúng đích HER2 và một chất tiêu diệt ung thư mạnh. BSCKI. Nguyễn Tường Vân, khoa Nội Ung Bướu, Trung tâm Ung Bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, cho biết cơ chế thuốc hoạt động như quả "bom thông minh".
Trước tiên, phần kháng thể tìm, định vị và bám vào thụ thể HER2 trên bề mặt tế bào ung thư. Sau khi đi vào bên trong tế bào, thuốc giải phóng hóa chất cực mạnh, phá hủy DNA và tiêu diệt tế bào ác tính. Chất khóa giúp hóa chất luôn gắn chặt vào kháng thể trong suốt quá trình di chuyển, không bị rò rỉ trong máu, bảo vệ các tế bào lành và giảm tối đa tác dụng phụ. Chỉ khi tế bào ác tính gắn vào chất khóa mới bị bẻ gãy, giải phóng toàn bộ hoạt chất để tiêu diệt khối u từ bên trong.
Từ chỗ nằm liệt giường, suy kiệt, sau điều trị bệnh nhân đã ăn uống được, đi đứng trở lại. Bác sĩ Vân cho hay, các dòng thuốc ADC thế hệ mới giúp người bệnh ung thư vú giai đoạn trễ, kháng nhiều phác đồ, có cơ hội được điều trị kéo dài tiên lượng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Trong khi đó, bác sĩ Trịnh Thế Cường, Khoa Hóa trị liệu, Bệnh viện E (Hà Nội), thông tin về trường hợp nam bệnh nhân 88 tuổi nhập viện trong tình trạng khó thở, đau ngực. Kết quả giải phẫu bệnh xác định ông mắc ung thư biểu mô tuyến của phổi. Sau khi chọc dịch màng phổi để xét nghiệm đột biến gene, kết quả cho thấy bệnh nhân có đột biến EGFR. Các bác sĩ quyết định lựa chọn thuốc điều trị đích thế hệ 1 gefitinib.
Sau 10 ngày điều trị, người bệnh ổn định, xuất viện và tiếp tục dùng thuốc đích theo chế độ ngoại trú. Điều đáng chú ý là thuốc đích do Việt Nam sản xuất có giá khoảng 138.000 đồng/viên. Nhờ được bảo hiểm y tế chi trả 50%, người bệnh chỉ trả 69.000 đồng/viên, hết hơn 2 triệu đồng mỗi tháng.
"Không điều trị tràn lan, không hy vọng mù quáng nhưng cũng đừng vội buông tay khi người bệnh vẫn còn cơ hội”, bác sĩ Cường nói. “Khi lựa chọn đúng chỉ định và đúng mục tiêu điều trị, một phương án có chi phí vừa phải vẫn có thể mang lại hiệu quả rõ rệt cho người bệnh”.
Đồng tình, ThS.BS Nguyễn Duy Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Xạ trị và Y học hạt nhân Quốc tế, Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, nhấn mạnh giá trị của công nghệ hiện nay nằm ở việc công nghệ đó hỗ trợ bác sĩ đưa ra quyết định điều trị tốt hơn cho người bệnh.
“Sự kết hợp giữa các hướng tiếp cận đang chuyển dịch điều trị ung thư từ mô hình ‘một phác đồ cho nhiều người bệnh’ sang lựa chọn chiến lược cá thể hóa cho từng người bệnh. Trong bối cảnh này, ung thư học chính xác không chỉ là lựa chọn một loại thuốc phù hợp. Đó còn là khả năng xác định chính xác bệnh ở đâu, đặc điểm sinh học như thế nào, người bệnh đáp ứng ra sao và liệu pháp nào có thể tác động tốt nhất vào tổn thương đích”, ThS.BS Nguyễn Duy Anh cho biết.
Tại hội thảo “Đột phá trong Y học hạt nhân và Xạ trị định vị" vừa qua, GS.TS.BS Mai Trọng Khoa, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, cho biết theo dữ liệu toàn cầu GLOBOCAN 2024 của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư quốc tế (IARC), công bố tháng 7/2026, thống kê 34 loại ung thư tại 186 quốc gia, mỗi năm Việt Nam ghi nhận 177.404 ca ung thư mới, hơn 111.000 người tử vong.
Ở Việt Nam, tỷ lệ tử vong/mắc mới khoảng 63%. Con số này ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Nhật chỉ khoảng 35 - 40%, bởi vì họ phát hiện bệnh sớm hơn. Theo BS. Khoa, nguyên nhân chính khiến ung thư trở thành gánh nặng tại nước ta là nhiều bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, khi khối u đã di căn.
Tỷ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn ở nhiều loại ung thư như phổi, gan... lên đến 70%. Nhiều người có xu hướng trì hoãn khám bệnh vì lo nhận kết quả xấu, chỉ đến viện khi xuất hiện triệu chứng rõ rệt hoặc sức khỏe suy giảm. Trong khi đó, nhiều loại ung thư ở giai đoạn đầu không gây triệu chứng đặc hiệu, khi xuất hiện các biểu hiện rõ ràng, bệnh có thể đã tiến triển.
Trong điều trị, ThS.BS. Nguyễn Duy Anh cho biết y học hạt nhân hiện được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như nội tiết, tim mạch, thần kinh, cơ xương khớp và tiêu hóa. Trong đó, khoảng 80% kỹ thuật y học hạt nhân, cả chẩn đoán và điều trị, liên quan đến ung thư. Thuốc phóng xạ trúng đích cũng được kỳ vọng bổ sung lựa chọn điều trị cho một số bệnh nhân đã kháng thuốc, trong đó có ung thư tiền liệt tuyến, ung thư gan, ung thư vú, một số u não ác tính và lymphoma.
Theo các chuyên gia, thay vì áp dụng một phác đồ tương tự cho nhiều người bệnh, các phương pháp hiện đại hướng tới lựa chọn chiến lược dựa trên đặc điểm sinh học của khối u và tình trạng cụ thể của từng người bệnh. Trong đó, Theranostics là một trong những hướng phát triển đáng chú ý của y học hạt nhân hiện đại.
Nguyên lý “thấy đúng đích - chọn đúng liệu pháp” cho phép sử dụng các tác nhân phóng xạ hướng đích để xác định sự hiện diện, phân bố của đích phân tử, đồng thời đưa tác nhân điều trị đến các tế bào ung thư có biểu hiện đích.
Cùng với Theranostics, PET/CT và SPECT/CT ngày càng được ứng dụng trong đánh giá sinh học khối u, xác định giai đoạn bệnh, phát hiện tổn thương và theo dõi đáp ứng điều trị. PET/CT kết hợp thông tin về chuyển hóa với hình ảnh giải phẫu, qua đó hỗ trợ bác sĩ phát hiện tổn thương, đánh giá mức độ lan rộng của bệnh và theo dõi hiệu quả điều trị. Trong khi đó, SPECT/CT giúp định vị chính xác những bất thường về chức năng trên nền hình ảnh giải phẫu.
Song song với phát triển kỹ thuật, Việt Nam cũng từng bước nâng cao năng lực sản xuất thuốc phóng xạ trong nước. Theo bác sĩ Duy Anh, một số đơn vị đang tập trung đầu tư để tự sản xuất thuốc phóng xạ phục vụ cho quá trình điều trị. Số lượng trung tâm sản xuất thuốc phóng xạ được kỳ vọng có thể tăng gấp đôi trong thời gian tới, góp phần chủ động nguồn thuốc và mở rộng khả năng tiếp cận các liệu pháp phóng xạ trúng đích cho người bệnh ung thư.
Ngành công nghiệp thuốc lá đang gia tăng mạnh hoạt động vận động hành lang tại Brussels, trong bối cảnh Liên minh châu Âu (EU) thúc đẩy mục tiêu xây dựng “thế hệ không thuốc lá” vào năm 2040. Cuộc giằng co giữa lợi ích thương mại, các sản phẩm nicotine thế hệ mới và mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng đang khiến những cải cách quan trọng về thuế và kiểm soát thuốc lá của EU rơi vào thế khó...
Việt Nam hiện ghi nhận khoảng 7 triệu người mắc đái tháo đường, trong đó có gần một nửa chưa được chẩn đoán. Đáng lo ngại, tỷ lệ người mắc mới đi kèm xu hướng trẻ hóa trong những năm gần đây ngày càng gia tăng, kéo theo các biến chứng nhãn khoa cần lưu ý...
Khi đánh giá nguy cơ tim mạch, đặc biệt là xơ vữa động mạch, bộ xét nghiệm lipid thông thường gồm cholesterol toàn phần, triglyceride, LDL-C và HDL-C vẫn là những chỉ số quen thuộc. Tuy nhiên, chỉ 4 thông số này có thể chưa đủ để đánh giá toàn diện nguy cơ ở nhiều người bệnh...
Những phát hiện từ nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy loại đường phổ biến này có thể đóng vai trò phức tạp hơn trong sinh học ung thư so với những gì giới khoa học từng biết đến trước đây...
Thời gian gần đây, các bệnh viện trên cả nước – đặc biệt là tại nhiều địa phương phía Bắc – liên tiếp ghi nhận các ca cấp cứu do truyền dịch tại nhà. Điều này một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo xu hướng người dân tự ý điều trị theo “truyền miệng” mà không có chỉ định y tế…
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Việt Nam đang có tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ. Thậm chí, với những nguồn mỏ dầu khí đang cạn kiệt còn mở ra cơ hội lưu trữ carbon. Tận dụng tốt các nguồn mỏ này sẽ tạo ra CCS, Carbon Capture & Storage – một thị trường mới đầy tiềm năng, quy mô hàng chục tỷ USD.