Buổi sáng sớm, tôi theo đoàn cán bộ xã Phú Lệ vào bản Sại, nơi mô hình rừng luồng thâm canh đầu tiên được triển khai. Con đường đất đỏ men theo triền núi, hai bên là những khóm luồng xanh rì, vươn cao thẳng tắp.
Trước mắt tôi là khu rừng luồng đã được cấp chứng chỉ FSC – một dấu mốc quan trọng trong hành trình thay đổi cách trồng luồng ở nơi này. Từng khóm luồng được phát dọn vệ sinh gọn gàng, đất quanh gốc được cuốc xới tơi xốp. Người dân nay không còn bỏ mặc cây phát triển tự nhiên như trước, mà chăm sóc kỹ lưỡng, bón phân định kỳ để tăng sức sống cho rừng.
Ông Hà Xuân Lắng, một trong những hộ tham gia mô hình, đưa tay chỉ từng bụi luồng, vừa đi vừa kể: “Ngày trước chúng tôi trồng luồng nhưng không bón phân, cũng chẳng tỉa thưa. Chính vì thế cây mọc nhỏ, măng ít, thu nhập bấp bênh. Tuy nhiên, sau khi được tập huấn kỹ thuật, làm theo hướng dẫn chăm sóc nên luồng phát triển khác hẳn. Lóng luồng to, măng nhiều, năng suất cao hơn 30 đến 35% so với trước”.
Vừa nói chuyện ông Lắng vừa cúi xuống những gốc luồng mới được bón phân, đất còn ẩm. Từ ánh mắt, giọng nói của ông, tôi nhận thấy sự tin tưởng và niềm vui của người nông dân khi thấy cây trồng quen thuộc đổi khác từng ngày. Ông chia sẻ: “Quan trọng nhất là luồng đã có doanh nghiệp, xưởng chế biến bao tiêu, giá cả cam kết nên bà con yên tâm sản xuất, không còn cảnh bị thương lái ép giá như xưa nữa”.
Khi nghe ông Lắng chia sẻ, tôi chợt nhớ đến câu chuyện mà các cán bộ xã đã từng kể. Phú Lệ có hơn 3.396ha rừng luồng, nhưng nhiều năm trước, người dân chỉ biết trồng rừng một cách tự phát, khai thác măng và cây một cách thái quá. Hậu quả là rừng dần bị thoái hóa, cây trở nên nhỏ bé, măng ít, khiến cuộc sống của người dân trở nên khó khăn.
Việc chuyển đổi phương thức sản xuất, tập trung vào thâm canh và quản lý bền vững đã trở thành một bước ngoặt quan trọng, giúp cây luồng phát triển thành cây kinh tế chủ lực.
Rời rừng luồng, tôi cùng cán bộ xã đến thăm một cơ sở chế biến tre luồng ngay tại địa bàn. Tiếng cưa, tiếng máy vang rộn. Những cây luồng nhanh chóng được xẻ, chẻ, tạo thành nguyên liệu sản xuất đồ dùng, vật liệu xây dựng. Nhờ có cơ sở chế biến tại chỗ, đầu ra cho luồng thuận lợi hơn, giá trị sản phẩm cũng được nâng lên.
Cán bộ Phòng Kinh tế xã Phú Lệ trao đổi với tôi rằng: “Việc bón phân, phục tráng đã làm tăng tỷ lệ sinh măng gấp 1,5 đến 2 lần. So với trước đây, rừng luồng nay cho năng suất và sản lượng cao hơn rõ rệt. Người dân không chỉ bán măng, bán cây mà còn có thêm thu nhập từ sản phẩm chế biến, đời sống ổn định hơn”.
Điều tôi cảm nhận rõ là từ một loại cây từng gắn bó theo cách truyền thống, nay luồng đã trở thành “cây thoát nghèo” cho người dân nơi đây. Có rừng luồng thâm canh, có chứng chỉ FSC, người dân bán được giá, lại thêm cơ sở chế biến, công việc và thu nhập nhờ đó tăng lên.
Chia sẻ về định hướng phát triển cây trồng này trong thời gian tới, ông Hà Văn Đợi, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phú Lệ cho biết “Ngay sau khi sáp nhập, xã đã xây dựng kế hoạch phát triển diện tích luồng thâm canh, phục tráng rừng. Chúng tôi phối hợp với Hạt Kiểm lâm Quan Hóa mở các lớp tập huấn kỹ thuật chăm sóc, bón phân, phục tráng. Đồng thời, xã triển khai đề án phát triển vùng thâm canh, đẩy mạnh cấp chứng chỉ FSC cho rừng luồng".
"Mục tiêu là nâng cao năng suất, chất lượng, để cây luồng thực sự trở thành cây kinh tế chủ lực, giúp bà con ổn định cuộc sống”, ông Đợi nhấn mạnh.
Nghe ông Đợi nói, tôi hình dung một bức tranh phát triển bền vững: luồng được trồng thâm canh, chăm sóc đúng kỹ thuật; có doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm; có cơ sở chế biến tại chỗ. Cả một chuỗi khép kín đang hình thành, đưa cây luồng từ chỗ bị khai thác tự nhiên thành sản phẩm có giá trị cao, góp phần xóa đói giảm nghèo cho vùng đất này.
Trên đường trở về, nhìn lại những cánh rừng luồng xanh mướt phủ kín các triền núi, từng gốc luồng đã qua bàn tay chăm sóc, từng khóm luồng vươn cao thẳng tắp như minh chứng cho sự đổi thay ở Phú Lệ. Nơi đây, cây luồng không chỉ còn là loài cây quen thuộc của núi rừng, mà đã trở thành cây kinh tế chủ lực, cây thoát nghèo, góp phần mang lại diện mạo mới cho vùng đất miền núi xứ Thanh.




Australia và Ấn Độ chính thức hoàn tất thỏa thuận xuất khẩu uranium, mở đường cho nguồn nhiên liệu phục vụ chương trình điện hạt nhân của New Delhi. Bước đi này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy mục tiêu chuyển dịch năng lượng của Ấn Độ, đồng thời làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước...
Sự bùng nổ của điện mặt trời đang thúc đẩy nhu cầu sử dụng pin lưu trữ tại Việt Nam. Bằng việc làm chủ công nghệ và vận hành nhà máy quy mô lớn tại Hưng Yên, GG Power không chỉ khẳng định năng lực sản xuất nội địa mà còn khắc phục bài toán hậu mãi, vốn là hạn chế của hàng nhập khẩu.
Thông qua đầu tư vào một số đơn vị vận hành trạm sạc, Grab cam kết hỗ trợ phát triển hơn 6.000 cổng sạc, góp phần mở rộng hạ tầng trạm sạc xe điện dùng chung trên toàn quốc.
Chính phủ thông qua 4 nhóm chính sách sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, tạo cơ sở hoàn thiện thể chế quản lý, phát triển bền vững kinh tế biển...
Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2026 - 2030 được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởng xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và bảo đảm an ninh năng lượng trong giai đoạn phát triển mới...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Các đối tượng đều thành lập doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức góp vốn, đầu tư kinh doanh. Đây là một loại núp bóng trá hình, đặc biệt là tập trung vào lĩnh vực du lịch, nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khỏe, y tế. Đó là cảnh báo của Bộ Công an liên quan đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.