Năm 2026, được xác định là năm bản lề, mở đầu cho kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030. Ngành nông nghiệp và môi trường đặt mục tiêu tăng trưởng 3,7%, phấn đấu đạt 4%. Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành dự kiến đạt 73-74 tỷ USD.
Chiều 26/3/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Chính phủ Báo cáo “Kịch bản tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường giai đoạn 2026-2030”, trong đó xác định rõ mục tiêu phát triển bền vững, xanh và thích ứng cao, đồng thời xây dựng các phương án ứng phó với những biến động quốc tế, đặc biệt là xung đột tại Trung Đông.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kịch bản tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 được xây dựng nhằm đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế. Ngành đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 3,6%/năm, phấn đấu đạt 4%/năm. Trong đó, trồng trọt tăng 2,5-2,8%, chăn nuôi 5-5,5%, lâm nghiệp 4,8-5,5% và thủy sản 4,3-4,5%/năm. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản dự kiến tăng từ 8-12%/năm.
Song song với tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu xã hội và môi trường cũng được đặt ra khá cụ thể: thu nhập cư dân nông thôn tăng 2,5-3 lần so với năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo giảm 1-1,5 điểm %/năm; hơn 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2030; 80% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt chuẩn.
Năm 2026, được xác định là năm bản lề, mở đầu cho kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030. Ngành nông nghiệp và môi trường đặt mục tiêu tăng trưởng 3,7%, phấn đấu đạt 4%. Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành dự kiến đạt 73-74 tỷ USD.
Về môi trường, ngành hướng tới giảm 8-9% lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản thông thường; nâng tỷ lệ xử lý và tái sử dụng nước thải lên 65-70%; đảm bảo 98-100% cơ sở sản xuất đạt quy chuẩn môi trường; duy trì độ che phủ rừng 42% và mở rộng diện tích khu bảo tồn biển lên tối thiểu 6%.
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xung đột tại Trung Đông đang gây ra hàng loạt tác động. Đối với nông nghiệp Việt Nam, chi phí đầu vào dự báo tăng khoảng 3-5%. Giá phân bón toàn cầu có thể tăng 5-15%, dù Việt Nam cơ bản tự chủ được một số loại như urê và phân lân, nhưng nhiều loại phân bón khác vẫn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Trong khi đó, thức ăn chăn nuôi - vốn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu đã tăng 1,5-2% và có xu hướng tiếp tục tăng.
Chi phí logistics là một trong những tác động rõ rệt nhất. Cước vận tải biển tăng 25-35%, thời gian vận chuyển kéo dài thêm 7-14 ngày do phải tránh khu vực rủi ro. Điều này làm giảm sức cạnh tranh của nhiều mặt hàng xuất khẩu.
Ngành thủy sản đang đối mặt với khó khăn lớn khi một số doanh nghiệp phải tạm dừng xuất khẩu sang Trung Đông do thiếu chuyến tàu và rủi ro vận tải. Trong lĩnh vực rau quả, nhiều lô hàng đã đóng container phải nằm chờ tại cảng do thay đổi lịch tàu. Thời gian vận chuyển kéo dài làm tăng nguy cơ giảm chất lượng sản phẩm, buộc doanh nghiệp phải tăng chi phí bảo quản hoặc đối mặt nguy cơ bị từ chối nhận hàng.
Một số ngành có tỷ trọng xuất khẩu lớn sang Trung Đông như điều (khoảng 11%) và hồ tiêu (khoảng 10%) chịu ảnh hưởng đáng kể. Nếu việc xuất khẩu bị gián đoạn kéo dài, doanh nghiệp sẽ chịu áp lực tồn kho và dòng tiền.
Tuy nhiên, Bộ cũng nhận định tác động trực tiếp từ thị trường Trung Đông là không lớn, do khu vực này chỉ chiếm khoảng 2-2,2% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành (tương đương hơn 1,74 tỷ USD năm 2025). Tác động gián tiếp thông qua chi phí vận tải, năng lượng và rủi ro chuỗi cung ứng mới là yếu tố đáng lo ngại.
Trước những thách thức trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề ra nhóm giải pháp trọng tâm nhằm ổn định sản xuất, bảo vệ lợi nhuận người dân và duy trì chuỗi xuất khẩu.
Trước hết là ổn định nguồn cung và giá vật tư đầu vào, đặc biệt là phân bón và xăng dầu, nhằm hạn chế tác động lan tỏa đến chi phí sản xuất. Đồng thời, triển khai mua dự trữ lúa gạo khi giá xuống thấp để bảo đảm lợi ích cho nông dân.
Bộ cũng đã thiết lập đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh từ doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân, qua đó kịp thời tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách.
Đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất các biện pháp hỗ trợ như giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ lưu kho và bảo quản hàng hóa, nhất là với thủy sản và rau quả.
Song song với ứng phó ngắn hạn, ngành nông nghiệp đẩy mạnh các giải pháp dài hạn nhằm nâng cao tính tự chủ và khả năng chống chịu. Trong đó, xúc tiến thương mại và đa dạng hóa thị trường được coi là hướng đi chiến lược. Các thị trường tiềm năng như Đông Á, Nam Á, EU, châu Phi và Mỹ Latinh sẽ được đẩy mạnh khai thác. Việc tận dụng các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới cũng được chú trọng.
Về sản xuất, ngành tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng. Chuyển đổi từ sản xuất nông sản giá trị thấp sang các sản phẩm có giá trị cao hơn; chuyển đổi diện tích lúa kém hiệu quả sang cây trồng, vật nuôi có lợi thế kinh tế.
Đồng thời, phát triển các vùng nguyên liệu lớn, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải; tổ chức sản xuất theo vùng chuyên canh, gắn với truy xuất nguồn gốc và xây dựng mã số vùng trồng, vùng nuôi để đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế.
Để bảo đảm thực hiện hiệu quả kịch bản tăng trưởng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành liên quan hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ đủ mạnh.
Trong đó, tập trung vào các chính sách tài chính, tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp liên kết theo chuỗi với nông dân. Đồng thời, đề xuất điều chỉnh chính sách thuế, nghiên cứu giảm thuế nhập khẩu đối với một số nguyên liệu đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật về 0%.
Ngân hàng Nhà nước được đề nghị xây dựng chính sách tín dụng mới thay thế Nghị định 55/2015/NĐ-CP, đồng thời triển khai gói tín dụng 150.000 tỷ đồng cho lĩnh vực lâm sản và thủy sản với lãi suất ưu đãi thấp hơn 1–2%.
Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại cần giảm lãi suất cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xuất khẩu, mở rộng hạn mức tín dụng lưu động và hỗ trợ tiếp cận bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nhằm giảm rủi ro thanh toán.




Sau khi mở rộng địa giới hành chính, TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm công nghiệp lớn nhất Việt Nam, chiếm trên 20% giá trị sản phẩm công nghiệp cả nước...
Tập huấn, nâng cao năng lực thương mại điện tử được xem là bước đi chiến lược giúp các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh nắm bắt quy định pháp luật mới, tối ưu hóa kênh bán hàng trực tuyến và bứt phá năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm đặc sản OCOP, làng nghề truyền thống...
Việt Nam đang đẩy mạnh hoàn thiện chính sách và khung kỹ thuật nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh trong lĩnh vực giao thông vận tải, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Với sự hỗ trợ của Chính phủ Đức, dự án NDC-TIA II sẽ góp phần hoàn thiện thể chế, thúc đẩy điện khí hóa phương tiện và phát triển hệ sinh thái giao thông phát thải thấp...
Các quy định mới tại Nghị định 278/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ, giúp việc điều chỉnh giá điện diễn ra linh hoạt theo tín hiệu thị trường nhưng vẫn dưới sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước…
Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 86,5 tỷ USD, khẳng định Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam…
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Diễn đàn Phát triển Khu Công nghiệp Việt Nam được tổ chức trong bối cảnh việc định hướng phát triển các khu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng thu hút đầu tư, góp phần định hình mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu.