"Năng suất thấp, canh tác manh mún và chuỗi cung lỏng lẻo là ba điểm nghẽn lớn nhất của ngành sắn.
Nếu không xử lý đồng thời, ngành sắn sẽ khó đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và ngày càng rủi ro khi hội nhập”.
Ngày 28/1/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (VAERD), Hiệp hội Sắn Việt Nam và Tổ chức Forest Trends phối hợp tổ chức hội thảo: "Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và giải pháp". Tại đây, các chuyên gia đã chỉ ra những thách thức mà ngành sắn đang đối mặt như: năng suất thấp, sản xuất manh mún, phụ thuộc gần như tuyệt đối vào một thị trường xuất khẩu, và đặc biệt là điểm nghẽn lớn về truy xuất nguồn gốc trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng siết chặt tiêu chuẩn môi trường và pháp lý.
Thông tin tại sự kiện, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết đến năm 2025, diện tích trồng sắn của Việt Nam duy trì khoảng 495.000 – 500.000 ha, sản lượng củ tươi đạt 10,2 – 10,5 triệu tấn/năm, năng suất bình quân 20,5 – 21 tấn/ha. Dù năng suất đã được cải thiện nhờ giống mới và tiến bộ kỹ thuật, nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với Thái Lan và Indonesia.
Hệ thống chế biến sắn tại Việt Nam phát triển mạnh về số lượng với khoảng 2.200 - 2.300 cơ sở, tổng công suất thiết kế đạt 2,4 - 2,5 triệu tấn tinh bột/năm. Tuy nhiên, cơ cấu chế biến còn bất hợp lý khi các cơ sở nhỏ, hộ gia đình chiếm tỷ lệ lớn, công suất thực tế chỉ đạt 65- 70%. Xuất khẩu vẫn chủ yếu là sắn lát khô và tinh bột sắn sơ chế, khiến giá trị gia tăng thấp và dễ tổn thương trước biến động thị trường.
"Năng suất thấp, canh tác manh mún và chuỗi cung lỏng lẻo là ba điểm nghẽn lớn nhất của ngành sắn.
Nếu không xử lý đồng thời, ngành sắn sẽ khó đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và ngày càng rủi ro khi hội nhập”.
Theo báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong năm 2025, Trung Quốc chiếm tới 94,1% tổng lượng và 92,6% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn của Việt Nam, tương đương 3,7 triệu tấn, trị giá 1,17 tỷ USD. Các thị trường khác như Đài Loan, Malaysia, Philippines chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Mức độ tập trung thị trường quá cao khiến ngành sắn Việt Nam dễ bị tổn thương trước những thay đổi chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc biến động nhu cầu từ phía Trung Quốc. Đáng chú ý, chính thị trường này cũng đang ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và đặc biệt là truy xuất nguồn gốc.
TS Hà Công Tuấn, Chủ tịch VAERD, cho biết khó khăn lớn nhất của ngành sắn trong việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc nằm ở khâu nguyên liệu. Trong nước, sắn chủ yếu được trồng trên các diện tích nhỏ lẻ, bình quân chỉ 0,5 – 0,6 ha/hộ, tiêu thụ qua thương lái, thiếu thông tin về lịch sử sử dụng đất và giao dịch. Với nguyên liệu nhập khẩu từ Lào và Campuchia, chiếm tới 42% tổng cung, tình trạng thiếu thông tin vùng trồng và bằng chứng giao dịch cũng diễn ra tương tự.
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Việt Nam hiện sử dụng chủ yếu ba nhóm giống sắn, song công tác nhân giống, kiểm soát chất lượng và chuyển giao kỹ thuật còn phân tán. Phần lớn diện tích sắn được trồng trên đất dốc, đất nghèo dinh dưỡng, canh tác liên tục nhiều năm nhưng ít được cải tạo, dẫn đến suy thoái đất và giảm năng suất dài hạn.
TS Hà Công Tuấn cho rằng nếu thâm canh sắn thì bắt buộc phải song hành với các biện pháp cải tạo đất và canh tác bền vững. Ngược lại, nếu luân canh tự phát theo tín hiệu giá thị trường, nguy cơ đứt gãy truy xuất nguồn gốc là rất lớn, khó hình thành vùng nguyên liệu ổn định phục vụ chế biến quy mô lớn.
"Trong bối cảnh phần lớn người trồng sắn là đồng bào dân tộc thiểu số, hạn chế về vốn và tiếp cận tài chính, vai trò tổ chức của doanh nghiệp càng trở nên then chốt.
Doanh nghiệp phải đứng vào trung tâm chuỗi giá trị của ngành hàng sắn”.
Theo ông Nghiêm Minh Tiến - Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam, một thực tế đáng chú ý là hiện chưa tới 5% người trồng sắn ký hợp đồng trực tiếp với nhà máy chế biến; hơn 95% sản lượng vẫn giao dịch tự do qua thương lái. Dù cả nước có khoảng 350 - 380 hợp tác xã có thành viên trồng sắn, nhưng số hợp tác xã chuyên ngành sắn chỉ khoảng 40 - 50, và liên kết hợp đồng ổn định mới bao phủ 20 - 25% sản lượng.
“Vấn đề không phải là “xóa” thương lái bằng mệnh lệnh hành chính, mà là doanh nghiệp chế biến có đủ năng lực để trực tiếp tổ chức vùng nguyên liệu, gắn kết với nông dân và hợp tác xã hay không", ông Tiến nêu quan điểm.
"Ngành sắn hiện có quy mô tác động xã hội rất lớn, với số hộ tham gia còn cao hơn nhiều ngành hàng chủ lực khác. Ước tính, có khoảng hơn 1,2 triệu hộ gắn với cây sắn, cao hơn cà phê (khoảng 700.000 hộ), cao su (khoảng 250.000 hộ) và tương đương, thậm chí lớn hơn quy mô hộ trong ngành gỗ. Tuy nhiên, trái với quy mô đó, thông tin và dữ liệu về ngành sắn lại hạn chế, khiến việc quản lý và hoạch định chính sách gặp nhiều khó khăn".
Trong bối cảnh quốc tế, các quy định mới như Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), cùng các yêu cầu tương tự từ Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc đang tạo ra áp lực lớn đối với các ngành hàng nông lâm sản. Dù hiện EUDR chưa áp dụng trực tiếp với sắn, xu hướng siết chặt là rõ ràng và không thể đảo ngược.
Theo Forest Trends, để đáp ứng yêu cầu truy xuất theo định hướng của Chính phủ, ngành sắn cần tái cấu trúc toàn bộ chuỗi cung theo hướng chính thức, minh bạch và có kiểm soát. Hợp tác xã cần được xác định là hạt nhân tổ chức vùng nguyên liệu, gắn chặt với doanh nghiệp chế biến chủ lực; ưu tiên hỗ trợ các hợp tác xã hoạt động thực chất, có khả năng ký kết hợp đồng dài hạn.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng, từng bước giảm tỷ trọng xuất khẩu sắn lát và tinh bột sơ chế, phát triển các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao phục vụ thực phẩm, dược phẩm, công nghiệp và năng lượng sinh học. Cùng với đó là đa dạng hóa thị trường, khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do, giảm dần sự phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.
Từ những công việc vốn được xem là dành cho nam giới, phụ nữ tại làng nghề gỗ La Xuyên đang ngày càng khẳng định tay nghề trong từng đường đục, nét chạm. Trong khi đó, Vạn Điểm tìm hướng phát triển mới bằng đổi mới sản phẩm, ứng dụng công nghệ, mở rộng thị trường và tận dụng phụ phẩm gỗ, từng bước hình thành chuỗi sản xuất theo hướng kinh tế xanh, tuần hoàn.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Xuất khẩu rau quả Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh trong năm 2026 khi kim ngạch 8 tháng đầu năm đạt gần 5,87 tỷ USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước. Với động lực từ sầu riêng cùng nhiều mặt hàng trái cây chủ lực khác, ngành rau quả đang đứng trước cơ hội tiến gần mục tiêu 9,5-10 tỷ USD trong cả năm.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi trọng việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ cách đây gần 80 năm, còn Việt Nam mới chỉ bắt đầu công cuộc này cách đây một phần tư thế kỷ. Vì vậy, vẫn còn rất nhiều việc cần làm để phát huy tối đa vai trò của khu vực này, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.
Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Ngành Thống kê Việt Nam (6/5/1946 - 6/5/2026), Cục Thống kê công bố cuốn sách “Cấu trúc kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986-2025)”. Đáng chú ý, lần đầu tiên một số liệu quan trọng về tương quan giữa GDP sản xuất và GDP sử dụng được công bố, qua đó cho thấy những kết quả tích cực của nền kinh tế, đồng thời đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục phân tích.
Các thành phố lớn tại Việt Nam đang đối mặt với tình trạng “đô thị nén”, mật độ xây dựng cao, thiếu không gian mở và cây xanh. Điều này làm suy giảm khả năng thông gió tự nhiên, gia tăng hiện tượng đảo nhiệt đô thị và khiến con người ngày càng phụ thuộc vào hệ thống điều hòa…
Thay đổi từ tư duy bồi thường thiệt hại về đất sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi. Câu chuyện tái thiết sinh kế, việc làm, thu nhập cho người bị thu hồi đất là vấn đề trọng tậm cần được tập trung giải quyết.