Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Phùng Thành Vinh vừa ký Quyết định số 16/2026/QĐ-UBND ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Theo quy định, cụm công nghiệp có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 10 ha. Đối với khu vực miền núi và cụm công nghiệp làng nghề, diện tích tối thiểu được điều chỉnh xuống 5 ha nhằm phù hợp điều kiện thực tế. Việc phát triển cụm công nghiệp phải gắn với dự báo nhu cầu mặt bằng sản xuất, khả năng quỹ đất và nhu cầu lao động trong từng giai đoạn quy hoạch.
Quy chế cũng đặt ra điều kiện chặt chẽ đối với việc thành lập cụm công nghiệp mới. Theo đó, cụm công nghiệp chỉ được xem xét khi đã nằm trong phương án phát triển cụm công nghiệp tích hợp vào Quy hoạch tỉnh được phê duyệt và có quỹ đất phù hợp với các quy hoạch liên quan. Đối với những địa bàn đã có cụm công nghiệp, việc thành lập mới phải đáp ứng tiêu chí tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt trên 50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê không vượt quá 100 ha.
Trong trường hợp cụm công nghiệp nằm trên nhiều địa bàn cấp xã, các tiêu chí về tỷ lệ lấp đầy và quỹ đất chưa cho thuê được tính riêng theo từng địa bàn, căn cứ theo quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt. Việc mở rộng cụm công nghiệp cũng được kiểm soát, yêu cầu tổng diện tích sau mở rộng không vượt quá 75 ha và phải phù hợp với quy hoạch liên quan.
Ngoài ra, phương án phát triển cụm công nghiệp có thể được điều chỉnh khi có thay đổi về quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu thuê đất sản xuất kinh doanh, đồng thời bảo đảm hiệu quả đầu tư hạ tầng và khả năng khai thác thực tế của các cụm công nghiệp.
Quy chế mới cũng phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quản lý. Sở Công Thương Nghệ An được giao chủ trì tham mưu xây dựng, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách; đồng thời tổng hợp, hoàn thiện phương án phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. UBND cấp xã có trách nhiệm rà soát, đề xuất phương án phát triển, phối hợp lập hồ sơ thành lập hoặc mở rộng cụm công nghiệp theo quy định.
Đối với việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, Sở Công Thương tham mưu thành lập Hội đồng đánh giá, làm cơ sở trình UBND tỉnh xem xét, quyết định. Các nội dung về điều chỉnh, bãi bỏ quyết định thành lập; lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch chi tiết; cũng như phê duyệt dự án đầu tư hạ tầng được quy định theo hướng rõ đầu mối, bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Bên cạnh đó, các quy định liên quan đến môi trường, đất đai, phòng cháy chữa cháy, quản lý dịch vụ công cộng, hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác thanh tra, kiểm tra và xây dựng cơ sở dữ liệu cũng được làm rõ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01/5/2026 và thay thế Quyết định số 30/2018/QĐ-UBND trước đây.
Nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cần tiếp tục được nghiên cứu, rà soát, trong đó, cần đặc biệt chú trọng rà soát hệ thống văn bản pháp luật liên quan để đảm bảo các quy định được thống nhất, đồng bộ...
Theo Dự thảo Quy hoạch chung TP.Đà Nẵng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075, không gian phát triển Đà Nẵng được tổ chức theo hướng tích hợp, đa cực, đa trung tâm, đa tầng, đa lớp...
TP. Hồ Chí Minh lấy ý kiến cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình xây dựng các nghị quyết triển khai Luật Phát triển đô thị. Thành phố kỳ vọng các ý kiến từ thực tiễn sẽ góp phần hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ vướng mắc và bảo đảm các chính sách có thể triển khai hiệu quả sau khi ban hành...
Nhu cầu đá, cát và đất san lấp tại Nghệ An tăng mạnh khi hàng loạt dự án hạ tầng đồng loạt triển khai, trong khi nguồn cung hiện tại chỉ đáp ứng một phần nhu cầu. Tỉnh đang khẩn trương rà soát nguồn mỏ, chấn chỉnh quản lý giá và tìm giải pháp đưa thêm vật liệu ra thị trường...
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 66.26/2026/NQ-CP về hỗ trợ bảo đảm sinh kế, ổn định đời sống và tái định cư cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án điện hạt nhân đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.