
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Sáu, 02/01/2026
Ngọc Lan
28/10/2025, 11:24
Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành đã đạt được một số kết quả tích cực, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế phải giải quyết...
Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, ngày 28/10/2025 Quốc hội thảo luận tại hội trường về Báo cáo của Đoàn Giám sát và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về kết quả giám sát chuyên đề “việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”.
Báo cáo kết quả giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh nêu rõ: việc ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành đã đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội và hội nhập quốc tế.
Về hoàn thiện thể chế, chính sách, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã ban hành hơn 500 văn bản hướng dẫn và triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường, trong đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành hơn 30 văn bản. Qua đó đã cơ bản thể chế và cụ thể hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Chiến lược và Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia lần đầu được xây dựng; hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường được cập nhật, tiệm cận quốc tế.
Về kết quả thực hiện, nhiều chỉ tiêu bảo vệ môi trường đạt và vượt kế hoạch, như thu gom rác thải đô thị, xử lý nước thải khu công nghiệp, tỷ lệ che phủ rừng. Chi ngân sách môi trường không thấp hơn 1% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng qua các năm; nguồn lực xã hội hóa được huy động mạnh mẽ.
Về quản lý chất thải, các nguồn thải lớn đã được kiểm soát chủ động và chặt chẽ, không để xảy ra sự cố môi trường lớn; đã xuất hiện nhiều mô hình đô thị, nông thôn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất sinh thái, thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đạt 97,26% ở đô thị, 80,5% ở nông thôn; giảm chôn lấp, tăng tái chế và thu hồi năng lượng.
Đối với việc cải thiện chất lượng môi trường, tốc độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái môi trường đã được ngăn chặn, chất lượng môi trường từng bước cải thiện, đặc biệt là chất lượng môi trường đất, môi trường nước mặt một số lưu vực sông chính, nước biển ven bờ, nước dưới đất.
Về ứng phó biến đổi khí hậu đã có chuyển biến tích cực, nâng cao khả năng thích ứng, triển khai kiểm kê khí nhà kính, thúc đẩy chuyển đổi xanh hướng tới phát thải ròng bằng 0 năm 2050. Hành lang pháp lý thị trường carbon được hình thành; Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều giải pháp thích ứng cụ thể.
Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, song Đoàn giám sát cũng nhận thấy việc tổ chức thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 vẫn còn một số hạn chế, bất cập.
Vấn đề ô nhiễm môi trường còn nghiêm trọng. Ô nhiễm không khí, nhất là bụi mịn ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, nhiều thời điểm vượt ngưỡng an toàn. Ô nhiễm nước sông ở các lưu vực như sông Cầu, Nhuệ - Đáy, Bắc Hưng Hải chậm được cải thiện.
Theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, đến năm 2025, 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải được xử lý, nhưng đến tháng 9/2025, cả nước vẫn còn 38/435 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa hoàn thành xử lý triệt để.
Đến tháng 9/2025, cả nước vẫn còn 38/435 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa hoàn thành xử lý triệt để.
Ngoài ra, hạ tầng bảo vệ môi trường còn yếu và lạc hậu. Chỉ 18% nước thải đô thị được thu gom, xử lý; chôn lấp rác vẫn chiếm tỷ lệ cao. Mới 31,5% cụm công nghiệp và 16,6% làng nghề có hệ thống xử lý nước thải đạt yêu cầu.
Chính sách phân loại, thu gom, tái chế rác triển khai chậm, thiếu đồng bộ; hạ tầng tái chế chất thải đặc thù (điện tử, pin, tấm quang năng) còn hạn chế. Công nghệ sản xuất lạc hậu, tiêu tốn năng lượng, tài nguyên; vẫn còn nhập khẩu trái phép công nghệ cũ. Ngoài ra, tái chế, tái sử dụng cũng còn hạn chế; việc tuần hoàn, tái sử dụng nước thải và chất thải rắn công nghiệp chưa hiệu quả.
Đáng chú ý, một số mục tiêu chính sách chưa đạt. Thuế, phí bảo vệ môi trường chưa thực sự thay đổi hành vi tiêu dùng. Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam hoạt động chưa hiệu quả, chưa thúc đẩy được các dự án môi trường.
Dịch vụ tư vấn môi trường còn yếu, chất lượng thấp. Khiếu nại, vi phạm pháp luật về môi trường vẫn phức tạp. Xuất hiện nhiều vụ việc xả thải, xử lý rác, khí thải, dự án nghĩa trang gây bức xúc, ảnh hưởng đời sống dân cư. Chính quyền địa phương chủ yếu yêu cầu giảm tác động mà chưa có giải pháp căn bản, dẫn đến tình trạng ô nhiễm kéo dài và mất trật tự xã hội.
Theo báo cáo, nguyên nhân hạn chế trong công tác bảo vệ môi trường gồm khách quan và chủ quan.
Về khách quan, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, biến động kinh tế, đô thị hóa nhanh, biến đổi khí hậu cực đoan, tác động toàn cầu hóa, hạn chế về công nghệ, và khó khăn trong phát triển thị trường carbon.
Về chủ quan, do nhận thức, trách nhiệm về bảo vệ môi trường của một số cấp, ngành và doanh nghiệp còn hạn chế, vẫn ưu tiên tăng trưởng kinh tế hơn môi trường; pháp luật thiếu đồng bộ, chính sách triển khai chậm, nguồn lực tài chính chưa đáp ứng, công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật lạc hậu, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả chưa được thực hiện nghiêm, và lộ trình thực hiện một số nội dung trọng điểm (như thị trường carbon, chuyển đổi năng lượng) còn chậm.
Một số nguyên nhân khác bao gồm chậm phát triển thị trường và công nghiệp công nghệ môi trường, công nghệ sản xuất lạc hậu, tuyên truyền và giáo dục pháp luật chưa hiệu quả, phân công và phối hợp giữa các cơ quan chưa chặt chẽ, năng lực và hạ tầng còn yếu, đội ngũ cán bộ môi trường thiếu chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, thanh tra, xử lý vi phạm chưa đủ mạnh, chế tài còn nhẹ, và sự tham gia của cộng đồng, các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường còn yếu và chưa sâu rộng.
Trên cơ sở chỉ ra nguyên nhân của hạn chế, bất cập, Báo cáo kết quả giám sát đã nêu rõ các nhiệm vụ, giải pháp đột phá, đó là: Đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế, chính sách về bảo vệ môi trường và tổ chức thực thi quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực cho bảo vệ môi trường. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Về nhiệm vụ, giải pháp cấp bách hoàn thành đến cuối năm 2026, báo cáo nêu rõ việc tổng kết, đánh giá việc thực hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trình Quốc hội xem xét, thông qua đầu nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XVI.
Giải pháp trung và dài hạn đến năm 2030, cần phòng ngừa, kiểm soát và ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường. Kiểm soát chặt chẽ yêu cầu về môi trường đối với các dự án đầu tư; nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định, đánh giá công nghệ sản xuất để kiểm soát, ngăn chặn hiệu quả việc nhập khẩu công nghệ cũ, lạc hậu, có nguy cơ gây ô nhiễm vào Việt Nam
Trước mắt, xem xét sửa đổi ngay một số điều của Luật này tại Kỳ họp thứ Mười để góp phần khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đồng thời sửa đổi quy định về lộ trình, thời gian áp dụng đối với các chính sách liên quan đến quản lý chất thải rắn sinh hoạt cho phù hợp yêu cầu thực tế. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan như thuế, phí bảo vệ môi trường, ngân sách nhà nước, đầu tư...
Tổ chức rà soát, đánh giá và cập nhật, điều chỉnh (trong trường hợp cần thiết) các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch có liên quan đến bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu để đáp ứng yêu cầu “mở rộng và kiến tạo không gian phát triển mới”, tăng trưởng kinh tế 2 con số trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc xuyên suốt không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế đơn thuần, tôn trọng quy luật tự nhiên…
Nhiệm vụ, giải pháp trung và dài hạn đến năm 2030, Báo cáo nhấn mạnh việc phòng ngừa, kiểm soát và ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường; dự báo sớm tác động của biến đổi khí hậu.
Trong đó, kiểm soát chặt chẽ yêu cầu về môi trường đối với các dự án đầu tư; nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định, đánh giá công nghệ sản xuất để kiểm soát, ngăn chặn hiệu quả việc nhập khẩu công nghệ cũ, lạc hậu, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường vào Việt Nam; giám sát chặt chẽ, phòng ngừa đối với cơ sở thuộc loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường cao; cơ sở năng lượng nguyên tử, cơ sở hạt nhân.
Đồng thời, khắc phục, cải thiện chất lượng môi trường có trọng tâm, trọng điểm; tăng cường hiệu quả quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại; hoàn thiện thể chế, chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu; nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường năng lực tổ chức bộ máy quản lý về bảo vệ môi trường.
Từ lộ trình triển khai Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) cùng các thị trường lớn khác, có thể thấy doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước một cuộc sát hạch khắt khe về năng lực chuyển đổi xanh, mở ra nhiều cơ hội để đi nhanh và xa hơn nhưng cũng không ít thách thức về cạnh tranh thương mại. Đặc biệt từ ngày 01/01/2026, CBAM bước vào giai đoạn thực thi chính thức, cho phép đánh thuế bổ sung với một số loại hàng hoá thâm dụng carbon...
Tham gia thị trường carbon ngoài tăng cường giảm phát thải khí nhà kính với chi phí hiệu quả còn giúp các doanh nghiệp, nhà đầu tư tiếp cận được các nguồn vốn xanh, tăng cường năng lực cạnh tranh.Theo ước tính nếu tham gia vào thị trường carbon quốc tế, Việt Nam có thể có tiềm năng thu hút từ 500 triệu đến 2 tỷ USD từ các nguồn hỗ trợ tài chính quốc tế về khí hậu và chuyển đổi xanh...
Chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là con đường duy nhất để phát triển bền vững, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế và các giá trị sinh thái. Để thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình chuyển đổi xanh, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định tập trung vào các đột phá chiến lược làm động lực cho giai đoạn tới...
Kinh tế tuần hoàn biến chất thải thành tài nguyên thứ cấp, mở ra các ngành công nghiệp tái chế, công nghiệp sinh thái và năng lượng tái tạo có giá trị gia tăng cao, không chỉ giúp giảm chi phí đầu vào, mà còn thu hút dòng vốn xanh chất lượng cao, kiến tạo một không gian phát triển mới cho Việt Nam...
Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng về chính sách phát triển xanh, trong đó có việc Chính phủ đã ban hành “Quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh”. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Đình Trung, Trưởng phòng cấp cao, Dịch vụ Tư vấn tài chính, PwC Việt Nam, cho rằng bộ tiêu chí phân loại xanh là một chính sách hỗ trợ rất lớn với thị trường để khơi thông nguồn vốn cho các dự án xanh, giúp thị trường phát triển mạnh mẽ.
Thương hiệu xanh
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: