Xét theo nhóm
hàng, giá trị nhập khẩu nông sản đạt 7,62 tỷ USD, tăng 6,3%; sản phẩm chăn nuôi
đạt 1,16 tỷ USD, tăng 10%; lâm sản đạt 786,8 triệu USD, tăng 16,1%. Ngược lại,
nhập khẩu thủy sản đạt 746,8 triệu USD, giảm 1,8%; nhóm đầu vào sản xuất đạt
1,59 tỷ USD, giảm 13%. Đáng chú ý, nhập khẩu muối đạt 9,1 triệu USD, tăng mạnh
75,6% so với cùng kỳ năm trước.
NHẬP
KHẨU NGŨ CỐC VÀ RAU QUẢ TĂNG MẠNH
Về thị trường, khu
vực châu Á và châu Mỹ tiếp tục là nguồn cung chủ yếu với thị phần lần lượt
27,7% và 26,6%. Các khu vực còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ hơn, gồm châu Đại Dương
4,6%, châu Âu 3,9% và châu Phi 3,8%. So với cùng kỳ năm 2025, nhập khẩu từ châu
Á giảm 2,7%, trong khi châu Mỹ tăng 10,9%, châu Đại Dương tăng mạnh 38,2% và
châu Phi tăng tới 56%; riêng châu Âu giảm 3,3%.
Ở cấp độ quốc gia, Hoa Kỳ,
Trung Quốc và Brazil là ba thị trường cung cấp lớn nhất với thị phần tương ứng
11,8%, 9,9% và 9,8%. Đáng chú ý, nhập khẩu từ Hoa Kỳ tăng mạnh 53,4%, Trung
Quốc tăng 13,3% và Brazil tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước.
Trong nhóm các mặt
hàng nhập khẩu chủ lực, lúa mì ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng. Riêng tháng
3/2026, Việt Nam nhập khẩu 1,3 triệu tấn lúa mì, trị giá 158,1 triệu USD; lũy
kế 3 tháng đầu năm 2026 đạt 3 triệu tấn và 603,8 triệu USD, tăng 84,5% về khối lượng và
40,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Nhập khẩu đậu tương tháng 3 đạt 240
nghìn tấn, trị giá 116,9 triệu USD; lũy kế quý 1/2026 đạt 847,1 nghìn tấn và 404,9
triệu USD, tăng lần lượt 46,9% và 54,6%. Ngô cũng tăng mạnh khi tháng 3 nhập
khẩu 1,4 triệu tấn, trị giá 347,9 triệu USD; lũy kế 3 tháng đạt 4,1 triệu tấn
và 1 tỷ USD, tăng 90,2% về khối lượng và 83,4% về giá trị.
Đối với rau quả,
kim ngạch nhập khẩu tháng 3/2026 đạt 230 triệu USD, nâng tổng giá trị 3 tháng
đầu năm lên 795,4 triệu USD, tăng 31,5% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc và Hoa Kỳ là hai thị trường
cung cấp lớn nhất với thị phần lần lượt 37,9% và 29,5%. So với cùng kỳ, nhập
khẩu từ Trung Quốc tăng 41,2% và từ Hoa Kỳ tăng 52,2%.
Ở nhóm hạt điều,
tháng 3/2026 ghi nhận lượng nhập khẩu 350 nghìn tấn với giá trị 577,4 triệu
USD. Lũy kế quý 1/2026, nhập khẩu đạt 636 nghìn tấn và 1,04 tỷ USD, tăng 12,5% về
khối lượng và 13,1% về giá trị. Tanzania là nguồn cung lớn nhất với thị phần
33,1%, tiếp theo là Campuchia (21,2%), Bờ Biển Ngà (19,8%) và Indonesia (2,2%).
Nhập khẩu cao su
trong quý 1/2026 đạt 441,4 nghìn tấn, trị giá 707,4 triệu USD, tăng 3,2% về khối
lượng nhưng giảm 4,7% về giá trị. Ba thị trường cung cấp chính là Campuchia
(31,4%), Trung Quốc (16,2%) và Hàn Quốc (10,7%).
Đối với sản phẩm
chăn nuôi, tổng giá trị nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2026 đạt 1,16 tỷ USD, tăng 10%.
Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 410,7 triệu USD, tăng 20,6%; trong
khi nhập khẩu thịt và phụ phẩm ăn được đạt 429,5 triệu USD, giảm nhẹ 0,9%.
Ở nhóm thủy sản,
giá trị nhập khẩu tháng 3/2026 ước đạt 280 triệu USD, đưa tổng kim ngạch quý 1/2026 lên 746,8 triệu USD, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường cung
cấp chính gồm Ấn Độ (16%), Indonesia (12,4%) và Na Uy (11,8%).
Trong khi đó, nhập
khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tháng 3 đạt 270 triệu USD, nâng tổng giá trị quý 1/2026 lên 775,4
triệu USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Pháp là ba nguồn cung lớn nhất với
thị phần lần lượt 38,4%, 21% và 3,7%. So với cùng kỳ năm 2025, nhập khẩu từ Trung Quốc
tăng 12%, từ Hoa Kỳ tăng 2,1 lần và từ Pháp tăng 27,7%.
GIẢM NHẬP KHẨU VẬT
TƯ NÔNG NGHIỆP
Trong bối cảnh
hoạt động nhập khẩu vật tư nông nghiệp có nhiều biến động, số liệu 3 tháng đầu
năm 2026 cho thấy xu hướng giảm ở một số nhóm hàng chủ lực, trong khi một số
mặt hàng vẫn duy trì tăng nhẹ.
Cụ thể, khối lượng nhập khẩu phân bón các
loại trong tháng 3/2026 ước đạt 450 nghìn tấn, tương ứng giá trị 134,9 triệu
USD. Lũy kế 3 tháng đầu năm 2026, tổng khối lượng nhập khẩu phân bón đạt 910,2 nghìn tấn với
giá trị 290,9 triệu USD, giảm mạnh 31,7% về khối lượng và 30,9% về giá trị so
với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, giá nhập khẩu bình quân lại ghi nhận xu hướng
tăng nhẹ, đạt 319,6 USD/tấn, tăng 1,2%.
Cán cân thương mại
nông lâm thuỷ sản Việt Nam tháng 3/2026 ước đạt thặng dư 1,55 tỷ USD, tăng 90,9%
so với tháng trước nhưng giảm 19,3% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 3 tháng
đầu năm 2026, thặng dư thương mại nông lâm thuỷ sản ước đạt 4,78 tỷ USD, tăng
12% so với cùng kỳ năm 2025.
Về thị trường, Trung Quốc tiếp tục là
nguồn cung phân bón lớn nhất với thị phần 48,2%, tiếp theo là Nga (16,2%) và Lào (7,6%).
So với cùng kỳ, giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc giảm 12,1%, Nga giảm sâu 56,5%
và Lào giảm 14,2%. Đáng chú ý, trong nhóm 15 thị trường lớn, Thái Lan ghi nhận
mức tăng mạnh nhất 32,1%, trong khi Israel giảm sâu tới 88,9%.
Đối với mặt hàng
thức ăn gia súc và nguyên liệu, giá trị nhập khẩu tháng 3/2026 ước đạt 420
triệu USD, nâng tổng giá trị nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2026 lên 1,05 tỷ USD, giảm
9,5% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ, Argentina và Trung Quốc là ba thị trường
cung cấp chính, chiếm thị phần lần lượt 26,5%, 21,7% và 9,8%. So với cùng kỳ,
nhập khẩu từ Hoa Kỳ tăng mạnh 48,8%, Trung Quốc tăng 33,3%, trong khi Argentina
giảm sâu 62%. Trong nhóm 15 thị trường lớn, Canada là thị trường tăng mạnh nhất
với mức tăng 2,6 lần, trong khi Brazil giảm mạnh nhất với mức giảm 66,8%.
Riêng mặt hàng
thuốc bảo vệ thực vật và nguyên liệu, giá trị nhập khẩu tháng 3/2026 ước đạt
120 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2026 lên 243,9 triệu USD,
tăng nhẹ 1% so với cùng kỳ năm 2025. Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung chủ lực,
chiếm 44,5% thị phần, tiếp theo là Ấn Độ (15%) và Singapore (5,6%). Tuy nhiên,
giá trị nhập khẩu từ các thị trường chính này đều giảm trong 2 tháng đầu năm
2026, với Trung Quốc giảm 10,1% và Ấn Độ giảm 12,3%, cho thấy xu hướng điều
chỉnh trong cơ cấu nhập khẩu mặt hàng này.