Nghị định gồm 5 chương, 29 điều, quy định rõ trách nhiệm và phạm vi quản lý đối với cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc sử dụng, khai thác hạ tầng hàng không.
Đối tượng áp dụng gồm: cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về hàng không dân dụng; cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng tham mưu, tổ chức thực thi pháp luật chuyên ngành hàng không; doanh nghiệp được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng hàng không; và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Trong đó, doanh nghiệp được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng hàng không bao gồm doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc Bộ Xây dựng thực hiện nhiệm vụ cung ứng dịch vụ bảo đảm hoạt động bay, và doanh nghiệp nhà nước trực tiếp khai thác kết cấu hạ tầng sân bay cùng các công trình thiết yếu khác theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng.
Danh mục tài sản kết cấu hạ tầng hàng không được quy định gồm các công trình hạ tầng hàng không và đất gắn liền với các công trình đó. Đối với các tài sản có liên quan đến quốc phòng, an ninh, việc xác định được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ công trình quốc phòng, khu quân sự và công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.
Việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng không phải tuân thủ các nguyên tắc của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, đồng thời bảo đảm được thống kê, kế toán đầy đủ về hiện vật và giá trị; được tính hao mòn, khấu hao và bảo trì theo quy định.
Việc giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng hàng không được căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển cảng hàng không, sân bay đã được phê duyệt, phù hợp chức năng và nhiệm vụ của đơn vị được giao quản lý.
Nghị định quy định rõ, việc khai thác hoặc xử lý tài sản kết cấu hạ tầng hàng không có thể thực hiện toàn bộ hoặc một phần, nhưng phải bảo đảm hoạt động hàng không thông suốt, an toàn và không ảnh hưởng đến phần tài sản còn lại. Nếu việc khai thác có tác động đến các tài sản khác trong khu vực cảng hàng không, sân bay, phải có ý kiến của đơn vị quản lý liên quan và xác định rõ trách nhiệm khắc phục.
Công tác quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng không sẽ được giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán theo quy định. Mọi hành vi vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật.
Đối với đất gắn với tài sản kết cấu hạ tầng hàng không, việc quản lý được thực hiện theo pháp luật về đất đai, hàng không dân dụng và các quy định có liên quan. Trường hợp thu hồi đất gắn với công trình hạ tầng hàng không, việc thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và xử lý đất sau thu hồi được thực hiện theo pháp luật về đất đai.
Việc sử dụng quỹ đất để tạo vốn phát triển hạ tầng hàng không cũng được quy định thực hiện theo pháp luật về đất đai.
Nghị định 287/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, thay thế Nghị định số 44/2018/NĐ-CP ngày 13/3/2018 của Chính phủ về quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng không.
Dự án mở rộng cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành đã đạt gần 73% sản lượng thi công, hướng tới hoàn thành theo kế hoạch vào cuối năm 2026. Tuy nhiên, dự án đang chịu áp lực từ nguồn cung nhựa đường khan hiếm và thiếu hụt nhân lực...
TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
TP. Hồ Chí Minh đang nỗ lực đẩy nhanh tiến độ thi công nút giao thông kết nối đường Rừng Sác với cao tốc Bến Lức - Long Thành, nhằm rút ngắn thời gian thực hiện và sớm đưa vào khai thác…
Sau 9 tháng năm 2026, Đồng Nai đã giải ngân hơn 18.600 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt gần 69% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Trong những tháng cuối năm, thành phố đang đẩy nhanh tiến độ các dự án, tháo gỡ vướng mắc về đất đai, bồi thường, tái định cư để thúc đẩy giải ngân...
Bộ Xây dựng đề xuất điều chỉnh tăng mức phạt tiền đối với nhiều hành vi, gắn kèm các hình thức xử phạt bổ sung (tước giấy phép, tịch thu tang vật) và biện pháp khắc phục hậu quả tương xứng...
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.