Khi nói đến phát triển công nghiệp,
không thể không nhắc đến đội ngũ công nhân lao động - những người trực tiếp vận hành dây
chuyền sản xuất, tạo ra của cải vật chất, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng
kinh tế quốc gia. Thế nhưng phía sau guồng quay ấy, một điều đáng lo ngại là
hàng triệu lao động vẫn chưa có một nơi ở ổn định để an cư và gắn bó lâu dài.
ĐỐI MẶT VỚI NHIỀU TRỞ NGẠI
Theo thông tin tại tọa đàm “Gỡ vướng
chính sách giúp công nhân, lao động thu nhập thấp tiếp cận nhà ở xã hội” do Báo
Lao Động tổ chức, thống kê từ Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội cho biết có
hơn 167.000 công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp như: Hòa Lạc, Thạch
Thất, Quốc Oai, Thăng Long… tuy nhiên, chỉ 3/10 khu có dự án nhà ở công nhân,
đáp ứng được 20% nhu cầu. Hơn 70–80% công nhân còn lại phải thuê trọ bên ngoài
trong điều kiện chật chội, vệ sinh không đảm bảo, hạ tầng yếu kém.
Không chỉ riêng Hà Nội, tình hình
cũng tương tự tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương (cũ) – hai địa phương có
lực lượng công nhân lớn nhất cả nước. Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận
khoảng 1,6 triệu công nhân, phần lớn đều sống trong những phòng trọ chật hẹp, từ
8–12 m2. Còn Bình Dương – “thủ phủ công nhân” của cả nước với hơn 1,2 triệu lao
động, nhu cầu về nhà ở rất cao nhưng thực tế mới đáp ứng được một phần nhỏ.
Dù đã có chính sách nhưng người lao động khó có khả năng mua nhà, do phải lo một khoản vốn ban đầu và chịu một mức lãi suất vay chưa thực sự là ưu đãi. Điều này khiến việc trả nợ trở thành gánh nặng và làm giảm khả năng tiếp cận nhà ở.
Ông Lê Đình Quảng, nguyên Phó Trưởng
ban quan hệ lao động, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho rằng quyền có nhà ở
của người dân nói chung và công nhân nói riêng đã được hiến định, thể hiện mục
tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau”. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước luôn nỗ lực
để đảm bảo quyền ấy, song kết quả vẫn khiêm tốn.
Khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam năm 2024 cũng nêu rõ, chỉ hơn 7% công nhân trong các khu công nghiệp
được tiếp cận nhà ở, hoặc ký túc xá doanh nghiệp; 9% công nhân tiếp cận được
nhà ở xã hội. Như vậy, tỷ lệ người lao động tiếp cận được nhà còn ở mức thấp.
Phân tích sâu hơn về nguyên nhân,
ông Lê Đình Quảng đánh giá có nhiều yếu tố khiến người lao động hiện nay gặp
khó khăn khi tiếp cận nhà ở phù hợp. Trước hết, giá nhà quá cao so với thu
nhập của người lao động. Mức lương bình quân theo khảo sát gần đây khoảng 8,3
triệu đồng/tháng, phần lớn người lao động chỉ đủ chi tiêu sinh hoạt hàng ngày,
gần như không có tích lũy. Vì vậy, dù đã có chính sách nhưng họ khó có khả năng
mua nhà, do phải lo một khoản vốn ban đầu và chịu một mức lãi suất vay chưa thực
sự là ưu đãi. Điều này khiến việc trả nợ trở thành gánh nặng và làm giảm khả
năng tiếp cận nhà ở của người lao động.
Bên cạnh đó, nguồn cung nhà ở vừa
túi tiền, trong đó có nhà ở xã hội vẫn hạn chế. Số liệu mới nhất của Bộ Xây dựng
cho thấy, kết quả đề án 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội tính đến tháng 9/2025, cả
nước có 692 dự án nhà ở xã hội với quy mô hơn 633.000 căn hộ, bao gồm cả các dự
án đã hoàn thành, đang triển khai và được chấp thuận chủ trương đầu tư. Tuy
nhiên, số lượng mới đạt 59,6% so với chỉ tiêu đặt ra tại Đề án.
DOANH NGHIỆP CẦN CHUNG TAY HỖ TRỢ
Theo ông Quảng, chúng ta đã bàn
nhiều về điểm nghẽn, về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp
trong phát triển loại hình nhà ở phù hợp với người lao động, nhưng
có một vấn đề cũng hết sức quan trọng, đây là trách nhiệm của người sử dụng lao
động đối với người lao động.
Có hai khía cạnh cần nhấn mạnh. Thứ nhất, trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp trong hỗ trợ chỗ ở cho người lao động. Một số quy định đã cho phép doanh
nghiệp được thuê nhà ở xã hội để bố trí cho cán bộ, công chức, viên chức, công
nhân, người lao động của mình ở; doanh nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp được
thuê nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp, để bố trí cho công nhân, người
lao động của mình ở. Điều đó thể hiện trách nhiệm và đạo đức kinh doanh, nhưng
quan trọng hơn cả, doanh nghiệp phải chủ động và nâng cao ý thức xã hội, coi việc
chăm lo chỗ ở cho người lao động là một phần trong chiến lược phát triển bền vững
của đơn vị.
Khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam năm 2024 cũng nêu rõ, chỉ hơn 7% công nhân trong các khu công nghiệp được tiếp cận nhà ở, hoặc ký túc xá doanh nghiệp; 9% công nhân tiếp cận được nhà ở xã hội.
Thứ hai, vấn đề thu nhập của người lao động cũng vô cùng then chốt.
Chính sách nhà ở phải gắn liền với thu nhập, khi thu nhập đủ sống, người lao động
mới có khả năng tiếp cận nhà ở. Trên thế giới, khái niệm “mức lương đủ sống” đã
bao gồm cả chi phí nhà ở. Vì vậy, doanh nghiệp cần xem việc nâng cao thu nhập
cho người lao động không chỉ là nghĩa vụ kinh tế, mà còn là trách nhiệm xã hội
và đạo đức nghề nghiệp. Bởi người lao động được bảo đảm đời sống, họ sẽ gắn bó
hơn, làm việc hiệu quả hơn, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững, cùng đất nước
bước vào kỷ nguyên thịnh vượng.
“Chúng ta nói đến nhà ở cho người
lao động song không thể tách rời khỏi câu chuyện thu nhập đủ sống, để người lao
động nuôi sống bản thân và gia đình, có một chỗ ở đàng hoàng, ổn định. Đó không
chỉ là điều kiện giúp họ tồn tại mà là nền tảng để họ cống hiến và phát triển”,
nguyên Phó Trưởng ban quan hệ lao động nhấn mạnh.
Từ phía doanh nghiệp, ông Nguyễn
Hoàng Nam, Tổng giám đốc Công ty cổ phần G-Homes lại nhấn mạnh rằng cần tiếp tục
khuyến khích khu vực tư nhân tham gia cung cấp nhà ở phù hợp cho công nhân. Nhiều
người dân có đất xây nhà trọ, nếu Nhà nước có cơ chế công nhận những nhà trọ đủ
điều kiện là nhà ở xã hội cho thuê sẽ tạo ra nguồn cung lớn. Song song là chính
sách hỗ trợ điện, nước cho công nhân thuê trọ vì chỉ cần tiết kiệm được
500.000–600.000 đồng mỗi tháng cũng là hành động rất thiết thực.