Theo ước tính, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh tháng 10/2025 giảm 0,84% so với tháng trước, nhưng vẫn tăng 9,76% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 4,91% so với tháng trước nhưng giảm 24,97% so với cùng kỳ; ngành chế biến, chế tạo tăng mạnh 11,26% so với tháng trước và tăng 16,98% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 43,06% so với tháng trước, giảm 19,07% so với cùng kỳ; trong khi ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 12,8% so với tháng trước, song vẫn tăng 3,16% so với cùng kỳ năm trước.
Nguyên nhân khiến chỉ số toàn ngành giảm nhẹ chủ yếu do Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II tạm dừng sản xuất để khắc phục sự cố sau bão. Bên cạnh đó, thời tiết mưa nhiều khiến thủy điện tăng sản lượng, kéo theo sản lượng nhiệt điện than tại Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I giảm so với tháng 9. Một số nhóm ngành như thép không gỉ, dăm gỗ tiếp tục gặp khó trong tiêu thụ sản phẩm, đơn hàng giảm sút rõ rệt, thị trường mới chưa được mở rộng kịp thời.
Tính chung 10 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp Hà Tĩnh tăng 4,38% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 6,19%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,35%, đóng góp 1,11 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 18,73%, đóng góp 3,07 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,61%, đóng góp 0,1 điểm.
Trong những tháng qua, nhiều nhân tố tích cực đã giúp duy trì và củng cố đà tăng trưởng công nghiệp của tỉnh. Đáng chú ý, sau khi hoàn thành việc nâng công suất dây chuyền số 1, Nhà máy sản xuất Pack Pin VinES đã nhanh chóng vận hành ổn định với sản lượng tăng đột biến.
Từ tháng 9/2025, cùng với việc Nhà máy ô tô điện VinFast Hà Tĩnh mở rộng sản xuất các dòng xe mới như VF6, VF7, nhà máy Pack Pin đã bắt đầu cung ứng sản phẩm VF3 và nhiều mẫu pin khác cho thị trường ô tô điện. Dự kiến đến hết tháng 10/2025, sản lượng Pack pin đạt hơn 34.000 sản phẩm, gấp hơn 7,5 lần so với cùng kỳ năm trước; Cell pin đạt trên 15,5 triệu đơn vị, góp phần quan trọng nâng chỉ số sản xuất chung toàn ngành.
Cùng với đó, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã đưa vào vận hành tổ máy số 1, còn Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I duy trì hoạt động ổn định trong suốt nhiều tháng đầu năm. Nhờ đó, chỉ số sản xuất ngành điện 10 tháng năm tăng 18,73% so với cùng kỳ, trở thành một trong những điểm sáng nổi bật của công nghiệp Hà Tĩnh.
Ngoài ra, các lĩnh vực khai khoáng khác tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực với mức tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, nhờ duy trì đà tăng từ cuối năm 2024 và ổn định trong các tháng đầu năm 2025. Trong số 20 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu được theo dõi, có 12 nhóm sản phẩm đạt mức tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Nổi bật là ắc quy ion lithi tăng gấp 6 lần; thức ăn gia súc tăng 31,4%; sợi tăng 15,87%; đá xây dựng tăng 10,03%.
Tuy vậy, một số sản phẩm công nghiệp vẫn giảm so với cùng kỳ, như quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 29,9%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 10,88%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 7,84%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 32,8%.




Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…
Bão số 1 đã suy yếu khi đi sâu vào đất liền Trung Quốc, tuy nhiên hoàn lưu sau bão tiếp tục gây mưa lớn trên diện rộng ở khu vực Bắc Bộ, làm gia tăng nguy cơ lũ trên các sông, ngập úng, lũ quét và sạt lở đất.
Trước nhu cầu điện dự báo tiếp tục tăng mạnh cùng tốc độ phát triển công nghiệp, Hà Tĩnh kiến nghị Bộ Công Thương xem xét bổ sung, điều chỉnh nhiều dự án nguồn và lưới điện trong Quy hoạch điện 8 điều chỉnh. Địa phương kỳ vọng việc hoàn thiện hạ tầng năng lượng sẽ tạo nền tảng thu hút đầu tư và bảo đảm an ninh năng lượng trong giai đoạn tới...
FDI không phải là mục tiêu của chính sách phát triển, mà là một trong nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi các nguồn lực quốc gia ngày càng hữu hạn, mọi chính sách ưu đãi, mọi quyết định phân bổ đất đai, hạ tầng, năng lượng hay dữ liệu đều cần hướng đến giá trị dài hạn mà nền kinh tế nhận được...
Sau gần 40 năm mở cửa, FDI vẫn là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khi quy mô nền kinh tế đã thay đổi và các nguồn lực phát triển ngày càng tiệm cận giới hạn, câu hỏi đặt ra lúc này là đã đến lúc nhìn nhận đúng vai trò của FDI trong chiến lược phát triển quốc gia...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…