Bà Lê Vũ Hương Quỳnh, Giám đốc phát triển thị trường Châu Á - Thái Bình Dương của Tether (stablecoin USDT với quy mô lớn nhất trên thế giới) khẳng định trước câu hỏi rằng: thời điểm hiện tại việc phát triển đồng stablecoin neo đậu VND, ví dụ VNDT như stablecoin USDT để đảm bảo các hoạt động giao dịch, thì về mặt công nghệ đã giải quyết được chưa? tại hội thảo chuyên sâu "Vận hành và giám sát thị trường tài sản số" do Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia (NCA) phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC) tổ chức ngày 18/12.
QUAN TRỌNG QUỐC GIA PHẢI CÓ CƠ CHẾ PHÁT HÀNH STABLECOIN
Theo bà Quỳnh, các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực cũng bắt đầu bằng khung pháp lý liên quan đến stablecoin, đặc biệt là Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc) và một số nước khác cũng đang trong quá trình xây dựng như Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan hay Indonesia. “Về mặt công nghệ, để tạo ra một đồng stablecoin nội địa mà neo với đồng pháp định của quốc gia thì không khó”, bà Quỳnh khẳng định.
Theo đại diện đến từ Tether, các cơ quan nhà nước đến doanh nghiệp đều có thể tự phát hành một stablecoin nội địa chỉ trong một thời gian rất ngắn vì công nghệ bây giờ đã rất sẵn sàng, thậm chí bản thân Tether cũng có một nền tảng có thể cho phép tất cả cơ quan quản lý hay doanh nghiệp tạo ra một đồng token hay stablecoin neo với tiền pháp định địa phương trong vòng 10-15 phút.
Hiện cũng có một số doanh nghiệp châu Âu ứng dụng nền tảng này để tạo ra một stablecoin tuân thủ theo luật của MICA. Một số quốc gia đã phát hành. Đó là về mặt công nghệ.
Tuy nhiên, theo bà Quỳnh, để tạo một đồng stablecoin neo với đồng nội địa, quan trọng nhất là phải tuân thủ với khung pháp lý về stablecoin tại quốc gia sở tại. Trong khung pháp lý đó có nhiều đặc điểm như: về mặt dự trữ, minh bạch và báo cáo. Bản thân quốc gia phải có cơ chế để phát hành ra stablecoin hay không.
Bà Quỳnh cũng cho biết, việc phát hành một đồng stablecoin, thứ nhất phải tìm được trường hợp để sử dụng stablecoin đó, thứ hai là tính thanh khoản của stablecoin, và thứ ba là hệ thống phân phối. Đấy là đặc điểm cốt lõi cho lý do tại sao mà USDT lại trở nên phổ biến vì có tính thanh khoản cao và mạng lưới phân phối trên toàn thế giới, theo bà Quỳnh.
Vị đại diện đến từ Tether cũng cho rằng Việt Nam ở vị thế rất khác trong khu vực, đó là việc ứng dụng cũng như sử dụng tài sản mã hóa Việt Nam luôn nằm trong top 5 thị trường lớn nhất thế giới, có số lượng người sử dụng khoảng 17-18 triệu người theo thống kê của Chainalysis, tương đương với gần 20% dân số.
Việt Nam cũng có dư địa rất lớn để có thể ứng dụng một cách hiệu quả công nghệ Blockchain cũng như tài sản mã hóa để phục vụ tăng trưởng kinh tế. Việt Nam cũng là nước nhận kiều hồi khá nhiều trên thế giới, khi một năm nhận tới 16-17 tỷ USD, đồng thời cũng là nước xuất khẩu nhiều tới các quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Điều này tạo nên dư địa rất lớn về mặt kinh tế khi Việt Nam có thể ứng dụng tài sản mã hóa và công nghệ Blockchain vào việc nhận kiều hối và thanh toán xuyên biên giới, đây sẽ là một xu hướng trong tương lai hai ba năm tới.
Theo bà Quỳnh, thời điểm hiện tại Việt Nam mới có Nghị quyết 05 (nghị quyết thí điểm về thị trường tài sản mã hóa), Nghị quyết 222 về trung tâm tài chính quốc tế, do đó “cửa sẽ mở” cho các sàn giao dịch tài sản mã hóa, là cơ hội lớn để ứng dụng hiệu quả công nghệ Blockchain phục vụ tăng trưởng kinh tế.
Tuy vậy, cơ hội nằm ở ứng dụng liên quan tới tài sản mã hóa, trong đó, thứ nhất là chuyển tiền xuyên biên giới, thứ hai là token hóa tài sản thật, đây chính là hai trụ cột đầy tiềm năng khi Việt Nam có được khung pháp lý ổn định bền vững và có tính tuân thủ cao, và có thể phát triển kinh tế dựa vào các trụ cột này.
BA YÊU CẦU THEN CHỐT ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI SẢN MÃ HÓA
Ông Vũ Duy Hiền, Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia, cho rằng tài sản số ngày nay không chỉ dừng lại ở một loại hình tài chính mới, mà đang trở thành cấu phần quan trọng của hạ tầng kinh tế số toàn cầu. Công nghệ blockchain với khả năng xác thực minh bạch, giao dịch tức thời và giảm chi phí trung gian đang mở ra nhiều cơ hội ứng dụng trong các lĩnh vực như tài chính, logistics, quản lý tài sản và dịch vụ công.
Theo ông Hiền, việc Việt Nam triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa là cần thiết và phù hợp với xu thế đổi mới tài chính toàn cầu. "Nếu chậm tiếp cận các mô hình quản lý và vận hành mới, Việt Nam có nguy cơ đứng ngoài dòng chảy phát triển", ông nói.
Cơ chế thí điểm cho phép Nhà nước kiểm soát rủi ro trong phạm vi an toàn, đồng thời tích lũy dữ liệu thực tiễn để từng bước hoàn thiện chính sách. Quan trọng hơn, nếu được vận hành đúng chuẩn, thị trường tài sản số có thể góp phần mở rộng không gian tăng trưởng, thu hút đầu tư công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành các dịch vụ giá trị gia tăng mới cho nền kinh tế.
Theo ông Vũ Duy Hiền, thị trường tài sản số chỉ có thể phát triển bền vững khi được đặt trên nền tảng an ninh mạng vững chắc và cơ chế giám sát minh bạch. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 05/2025/NQ-CP, ông cho rằng có ba yêu cầu then chốt cần được ưu tiên.
Thứ nhất là bảo đảm an toàn, an ninh mạng cho toàn bộ chuỗi vận hành của thị trường, từ nền tảng giao dịch, hệ thống lưu ký, quản lý khóa, quản trị rủi ro đến bảo vệ dữ liệu người dùng.
Thứ hai là xây dựng cơ chế giám sát minh bạch và có khả năng phản ứng nhanh, cho phép theo dõi dòng tiền, đánh giá sức khỏe hệ thống, nhận diện rủi ro thanh lý và phát hiện kịp thời các hành vi bất thường.
Thứ ba là thúc đẩy hợp tác trong nước và quốc tế nhằm học hỏi kinh nghiệm quản lý, chia sẻ mô hình vận hành hiệu quả và áp dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Cùng quan điểm với ông Hiền, bà Vũ Trần Ái Tâm, Giám đốc phát triển kinh doanh OKX Global, cho biết thêm, các bên cần đánh giá thị trường tài sản số theo hướng an toàn, minh bạch và có trách nhiệm, đáp ứng các yêu cầu cao hơn về an ninh hệ thống, minh bạch thị trường, bảo vệ người dùng, tuân thủ các quy định. Việc đảm bảo an toàn, minh bạch và trách nhiệm là nền tảng quan trọng để xây dựng niềm tin và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường tài sản số.
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet sẽ thực hiện chặn lọc thông tin trên không gian mạng khi xác định được nguồn gốc xung đột, yêu cầu của bên bị xung đột là hợp lý hoặc có yêu cầu từ lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng...
Tự chủ công nghệ không nên được đo bằng số lượng sản phẩm “Make in Vietnam” được công bố, mà bằng giá trị những sản phẩm đó tạo ra và quan trọng hơn, Việt Nam có thêm bao nhiêu quyền lựa chọn khi môi trường kinh tế, công nghệ toàn cầu biến động… Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Hà Trung Kiên, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghệ G-Group, về câu chuyện tự chủ công nghệ của Việt Nam trong kỷ nguyên AI và hội nhập quốc tế.
Từ ngày 15/10, công chức, viên chức trực tiếp giải quyết công việc trong 11 nhóm vị trí thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ tại địa phương dưới đây sẽ phải định kỳ chuyển đổi, sau thời gian làm việc từ 2-5 năm...
Nghị định số 147/2024/NĐ-CP quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng sau một thời gian áp dụng đã bộc lộ không ít bất cập, gây vướng mắc cho công tác quản lý. Trước thực trạng này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang chủ trì sửa đổi quy định, trong đó trọng tâm là hoàn thiện cơ chế pháp lý riêng biệt đối với các dòng game phục vụ thi đấu thể thao điện tử (esports)...
Ngày càng nhiều các công ty công nghệ Trung Quốc tập trung vào những "điểm nghẽn" mà Bắc Kinh xác định cần nhanh chóng làm chủ để giảm phụ thuộc từ nước ngoài, đặc biệt trong chuỗi cung ứng bán dẫn…
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.