Một buổi sáng tháng 4 ở xã Thọ Xuân, khi lớp sương mỏng còn vương trên mái chuồng, tiếng gà gáy vang lên rộn ràng khắp xóm. Trong những dãy chuồng thoáng rộng, từng đàn gà ri chạy nhảy, bới lớp đệm lót sinh học dưới chân, tạo nên nhịp sống quen mà mới.
Ít năm trước, khung cảnh này chưa thể có được. Nghề nuôi gà ở đây từng gắn với quy mô nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm. Mỗi hộ vài trăm con, chủ yếu bán cho thương lái, giá cả bấp bênh. Người nuôi khi ấy vẫn quen với cảm giác thấp thỏm: được mùa thì mất giá, còn khi giá lên lại thiếu hàng.
Sự thay đổi bắt đầu từ cuối năm 2024, khi Hợp tác xã sản xuất và chế biến gà quê Xuân Hồng ra đời. Từ những người nông dân vốn quen làm riêng lẻ, họ bắt đầu ngồi lại, bàn cách nuôi chung một quy trình, cùng chia sẻ đầu vào và tìm đầu ra ổn định hơn.
“Trước đây nuôi theo kinh nghiệm là chính, giờ làm theo hướng dẫn, có người giám sát, có nơi bao tiêu nên yên tâm hơn,” một hộ chăn nuôi nói, tay vẫn đều đặn rải thức ăn cho đàn gà đang lớn nhanh từng ngày.
Hiện nay, hợp tác xã duy trì khoảng 120.000 con mỗi lứa, được nuôi gối đầu giữa các hộ. Cách làm này giúp nguồn cung luôn đều đặn, tránh tình trạng dồn ứ khi xuất bán. Những con gà ri thuần, nuôi đủ 6 tháng, đạt trọng lượng từ 1,8–2 kg, giữ được vị thơm, chắc thịt, thứ làm nên “thương hiệu” của gà quê.
Không chỉ dừng lại ở chăn nuôi, một góc nhỏ trong khu vực của hợp tác xã đang dần hình thành khu chế biến. Ở đó, những mẻ giò gà, xúc xích gà hay gà ủ thảo mộc được làm theo đơn đặt hàng. Mỗi sản phẩm là thêm một cách kéo dài giá trị, giúp người nuôi không còn phụ thuộc hoàn toàn vào gà hơi.
Tại trang trại của anh Trịnh Phú Tuấn, 6 khu chuồng được bố trí nuôi luân phiên. Mỗi khu một lứa, nối tiếp nhau, bảo đảm quanh năm luôn có gà xuất bán. Với quy mô khoảng 5.000 con mỗi lứa, anh Tuấn đã có hơn 10 năm gắn bó với nghề.
Điểm khác biệt dễ nhận thấy là cách chăm sóc. Nền chuồng được phủ đệm lót sinh học, không còn cảnh dọn phân thường xuyên. Gà ri với tập tính bới xới tự nhiên giúp phân được phân hủy ngay trong chuồng, giảm mùi hôi, tiết kiệm công lao động.
“Nuôi kiểu này vừa đỡ vất vả, môi trường lại sạch hơn, gà cũng ít bệnh,” anh Tuấn chia sẻ, ánh mắt không rời đàn gà đang phát triển đều.
Không chỉ những hộ quy mô lớn, nhiều gia đình chăn nuôi vừa và nhỏ cũng bắt đầu “ăn nên làm ra” nhờ tham gia hợp tác xã. Ở thôn Lễ Nghĩa 1, gia đình ông Hà Xuân Hòa duy trì khoảng 8.000 con mỗi lứa. Trên mảnh đất từng trồng cam, bưởi kém hiệu quả do ngập úng, giờ đây đàn gà ri mang lại thu nhập ổn định, mỗi năm lãi gần 300 triệu đồng.
“Có đầu ra ổn định, mình chỉ cần nuôi cho tốt. Không còn lo cảnh bán tháo khi giá xuống,” ông Hòa nói, giọng nhẹ nhưng chắc.
Tháng 11/2025, khi sản phẩm gà quê Xuân Hồng được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, niềm tin của người nuôi càng được củng cố. Tấm chứng nhận không chỉ là sự ghi nhận quy trình mà còn mở cánh cửa đưa sản phẩm vào các kênh phân phối hiện đại.
Từ những chuồng gà nhỏ lẻ, giờ đây một chuỗi liên kết đã hình thành. Người nuôi không còn đơn độc, sản phẩm không còn “trôi nổi” theo thị trường. Thay vào đó là sự gắn kết, kiểm soát và định hướng dài hạn.
Đánh giá về mô hình hợp tác xã gà quê Xuân Hồng, lãnh đạo Hội Nông dân xã Thọ Xuân cho rằng đây là hướng đi đúng trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang được tái cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị. Việc tổ chức sản xuất theo chuỗi, gắn với tiêu chuẩn VietGAP không chỉ giúp kiểm soát chất lượng mà còn nâng sức cạnh tranh cho sản phẩm, từ đó tạo sinh kế ổn định, lâu dài cho người dân nông thôn.
Trong thời gian tới, hợp tác xã tiếp tục mở rộng quy mô chăn nuôi, thu hút thêm các hộ tham gia, đồng thời chú trọng đầu tư chế biến sâu và xây dựng hình ảnh thương hiệu bài bản hơn. Mục tiêu không chỉ dừng ở việc tiêu thụ ổn định mà còn từng bước đưa gà ri Xuân Hồng khẳng định chỗ đứng trên thị trường, góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại và bền vững.
Ở giữa đảo ngọc Phú Quốc, có một mô hình trống nấm Linh Chi đỏ từ nhiều năm nay, tạo thêm một phần việc làm cho người dân địa phương. Nấm ở đây được nuôi trồng theo kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao, nguyên liệu được hấp thanh trùng, tiệt trùng trước khi cấy phôi giống.
Năm 2026, sản lượng cam, bưởi, táo, ổi của Bắc Ninh ước đạt 118.525 tấn, tăng 18,7% so với năm trước. Để nâng cao giá trị sản phẩm, địa phương đặt mục tiêu tăng cường liên kết chuỗi, chuẩn hóa vùng trồng và mở rộng thị trường tiêu thụ...
Niên vụ 2025-2026, xuất khẩu cà phê Việt Nam bứt phá mạnh về sản lượng khi đạt 1,8 triệu tấn, thu về 8,5 tỷ USD. Dù giá bán hạ nhiệt khiến kim ngạch chỉ tăng nhẹ 1%, nhưng phân khúc cà phê chế biến vẫn ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, đóng góp 1,5 tỷ USD vào tổng kim ngạch...
Để tiếp tục giữ vững vị thế "top đầu" thế giới và không bị mắc kẹt trong bẫy gia công giá rẻ, ngành gỗ đang đứng trước yêu cầu cấp thiết: chủ động thiết kế, xây dựng thương hiệu, tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn xanh và thực hiện chiến lược đa dạng hóa thị trường...
Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường thẩm tra dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và nhấn mạnh về tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, quy định cụ thể tiêu chí phân định thẩm quyền...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Ở giữa đảo ngọc Phú Quốc, có một mô hình trống nấm Linh Chi đỏ từ nhiều năm nay, tạo thêm một phần việc làm cho người dân địa phương. Nấm ở đây được nuôi trồng theo kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao, nguyên liệu được hấp thanh trùng, tiệt trùng trước khi cấy phôi giống.