So với quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 53/2024/NĐ-CP, Điều 7 Nghị định 346/2025/NĐ-CP quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được Chính phủ ban hành mới đây đã thay đổi căn bản cách tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp. Theo đó, phương thức thu phí được chuyển từ cách tính mang tính “theo ngưỡng và bình quân” sang cách tính dựa trên lượng nước thải xả ra thực tế và mức độ ô nhiễm.
Cụ thể, Nghị định 346 không còn phân loại cơ sở theo ngưỡng lưu lượng nước thải dưới hay trên 20 m3/ngày như quy định trước đây. Thay vào đó, đối tượng nộp phí được phân chia dựa trên việc cơ sở có thực hiện quan trắc nước thải hay không, từ đó áp dụng hai công thức tính phí tương ứng.
Đối với các cơ sở không thuộc diện quan trắc và không thực hiện tự quan trắc, mức phí được xác định bằng cách lấy tổng lượng nước thải thực tế xả ra trong quý nhân với mức phí cố định là 1.700 đồng/m3.
Cụ thể, trường hợp cơ sở không thuộc đối tượng phải thực hiện quan trắc theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường mà không tự thực hiện quan trắc để tính phí, mức phí và số phí phải nộp trong quý xác định theo công thức (Fq= Lqx 1.700). Trong đó, Fq là số phí phải nộp trong quý (đồng); Lq là tổng lượng nước thải trong quý nộp phí (m3) được xác định căn cứ kết quả thực tế của đồng hồ đo lưu lượng đầu ra theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và 1.700 là mức phí tính cho 01 m3 nước thải (đồng/m3).
Trong khi đó, đối với các cơ sở có thực hiện quan trắc nước thải, mức phí được xác định trên cơ sở kết hợp giữa khối lượng nước thải và mức độ ô nhiễm của các thông số trong nước thải.
So với quy định cũ tại Nghị định 53/2024/NĐ-CP – vốn áp dụng mức phí cố định theo quy mô xả thải – cách tính mới khắc phục tình trạng các cơ sở có mức độ ô nhiễm khác nhau nhưng vẫn phải nộp mức phí tương đương.
Đáng chú ý, tại điểm c khoản 2 Điều 7 Nghị định 346, mức phí đối với các thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp đã được điều chỉnh tăng so với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 53/2024/NĐ-CP. Theo đó, mức phí đối với nhu cầu ô xy hóa học (COD) được nâng từ 2.000 đồng/kg lên 3.000 đồng/kg; chất rắn lơ lửng (TSS) tăng từ 2.400 đồng/kg lên 3.500 đồng/kg.
Đối với các kim loại nặng và chất độc hại, mức phí cũng có sự thay đổi đáng kể. Trong đó, thủy ngân (Hg) được điều chỉnh tăng mạnh từ 20.000.000 đồng/kg lên 55.000.000 đồng/kg. Các thông số khác như chì (Pb), arsenic (As) và cadimium (Cd) cũng được điều chỉnh mức phí.
Như vậy, so với quy định cũ, Nghị định 346 đã nâng mức phí đối với hầu hết các thông số ô nhiễm, đặc biệt là các chất ô nhiễm phổ biến và độc hại, qua đó thể hiện xu hướng quản lý chặt chẽ hơn đối với nguồn thải công nghiệp.
Theo quy định mới, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp được áp dụng thời hạn nộp thống nhất theo quý đối với tất cả các cơ sở. Cụ thể, chậm nhất là ngày 20 của tháng đầu tiên của quý tiếp theo, người nộp phí có trách nhiệm tự xác định số phí phải nộp theo quy định và nộp vào ngân sách nhà nước hoặc nộp bổ sung phần phí còn thiếu theo thông báo của tổ chức thu phí trong thời hạn quy định.
Đối với các cơ sở bắt đầu hoạt động sau ngày 31/3 hằng năm, việc xác định và nộp phí được thực hiện kể từ quý bắt đầu phát sinh hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Theo quy định cũ, thời hạn nộp phí được phân biệt giữa các cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình từ 20 m3/ngày trở lên (nộp theo quý) và các cơ sở có tổng lượng nước thải dưới 20 m3/ngày (kê khai một lần và nộp phí cho cả năm, chậm nhất ngày 31/3).
Việc thống nhất thời hạn nộp theo quý như quy định mới đã đơn giản hóa đáng kể thủ tục thực hiện cho các cơ sở có phát sinh nước thải.




Trung Quốc đang chứng minh rằng các siêu đô thị có thể giảm nhiệt một cách bền vững mà không gây áp lực quá lớn lên lưới điện, với một chiến lược thông minh bao gồm hệ thống làm mát khu vực tập trung hiệu quả, công nghệ lưu trữ - vận hành thông minh và giải pháp vật liệu phủ tản nhiệt thụ động. Chiến lược làm mát đô thị của quốc gia này thấy sự chuyển dịch từ các giải pháp đơn lẻ, thụ động sang các giải pháp tổng thể, chủ động, xanh, thông minh…
Theo số liệu thống kê cập nhật, từ khi khai trương sàn giao dịch carbon trong nước đến nay đã có 7 giao dịch với 1.310 hạn ngạch...
Khi hiện tượng El Nino xảy ra, với mức thiếu hụt dung tích tích trữ cuối mùa lũ tại các hồ chứa, kết hợp với suy giảm dòng chảy các tháng mùa cạn sẽ càng làm gia tăng nguy cơ mất an ninh nguồn nước các lưu vực sông trên cả nước. Điều này đặt ra yêu cầu chủ động tích nước, điều hòa, phân phối nguồn nước, bảo đảm an ninh nguồn nước mùa khô 2027, không chờ đến khi xảy ra thiếu nước mới ứng phó…
Trong bối cảnh Việt Nam vừa phải đáp ứng nhu cầu làm mát ngày càng tăng, vừa thực hiện các cam kết khí hậu và lộ trình giảm dần các chất HFC theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal, làm mát bền vững đang trở thành điểm kết nối giữa bảo vệ tầng ozone, giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng năng lượng hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu...
Nhân Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ozone (16/9/2026), bà Inger Andersen, Giám đốc điều hành Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã có bài phát biểu truyền tải thông điệp quan trọng, chia sẻ những thành quả về bảo vệ tầng ozone, bảo vệ hàng triệu sinh mạng và các hệ sinh thái thiết yếu khỏi bức xạ tia cực tím có hại thông qua việc các quốc gia đang từng bước cắt giảm HFC- những chất có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao và được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống làm mát; đồng thời kêu gọi các chính phủ đẩy nhanh tiến độ triển khai; cộng đồng doanh nghiệp đầu tư vào các giải pháp làm mát tiết kiệm năng lượng và thân thiện với khí hậu…
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Theo Nghị quyết, sẽ không truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện: Không tham nhũng; Vì lợi ích chung; Các hoạt động: đầu tư, sản xuất, kinh doanh; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội...