
Có những ngân hàng vẫn báo cáo kinh doanh có lãi, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát tốt, nhưng khi Ngân hàng Nhà nước vào cuộc thanh tra mới lộ rõ thực chất.
Thực tế trên được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình đưa ra khi trả lời chất vấn trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều nay (21/8). Đây được xem là một trong những dẫn chứng cụ thể để giải thích vì sao nợ xấu ngân hàng hiện có những con số khác nhau.
Cụ thể, theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến ngày 31/5/2012, nợ xấu của hệ thống là 117.723 tỷ đồng, chiếm 4,47% so với tổng dư nợ tín dụng; trong khi theo kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31/3/2012 nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 202.099 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ cấp tín dụng.
Như
giải thích của lãnh đạo chuyên trách của Ngân hàng Nhà nước vừa qua
, cũng như trong
báo cáo chuẩn bị cho phiên chất vấn của Thống đốc
, có những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến những con số khác nhau nói trên. Đặc biệt là có nguyên nhân từ sự chủ động của tổ chức tín dụng trong việc giấu nợ xấu để tránh trích lập dự phòng, để giảm bớt áp lực lợi nhuận…
Trong phần trả lời, Thống đốc Nguyễn Văn Bình dẫn ví dụ cụ thể từ các trường hợp thuộc diện phải tái cơ cấu.
Hiện có 9 tổ chức tín dụng phải thực hiện tái cơ cấu và Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành thanh tra tổng thể. Đáng chú ý là theo báo cáo của các tổ chức tín dụng này thì không có trường hợp nào có nợ xấu vượt quá 2,5%; thậm chí cả 9 đều báo cáo có lãi. Nhưng khi Ngân hàng Nhà nước tiến hành thanh tra trực tiếp thì có tổ chức tín dụng có nợ xấu lên đến trên 30%, đặc biệt có tổ chức tín dụng lên tới 60%, thậm chí không phải là có lãi nữa mà mất hết cả vốn tự có lẫn vốn điều lệ.
Theo đó, Thống đốc Bình nói rằng Ngân hàng Nhà nước không thể chỉ căn cứ vào báo cáo của các tổ chức tín dụng để điều hành, mà phải trực tiếp thông qua giám sát từ xa, thanh tra tại chỗ để đánh giá thực chất nợ xấu của hệ thống. Và con số 8,6% tỷ lệ nợ xấu mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra là đáng tin cậy hơn.
Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng đã giảm 4 tháng liên tiếp và đang lùi về sát đáy một năm. Dòng vốn, nguồn cung ngoại tệ và mặt bằng lãi suất VND đang tạo lực đỡ cho đồng nội tệ. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu của USD/VND có thể không còn nhiều khi nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu vẫn lớn, trong khi tín hiệu điều hành cho thấy tỷ giá có thể tăng nhẹ trong những tháng cuối năm...
Các thành viên trên thị trường liên ngân hàng vẫn đặt kỳ vọng cao vào tăng trưởng kinh tế và khả năng điều hành của Ngân hàng Nhà nước, nhưng thận trọng hơn với triển vọng chứng khoán và bất động sản. Sự phân hóa này xuất hiện ngay cả khi thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đã bớt căng thẳng, cho thấy dòng tiền dồi dào hơn chưa đồng nghĩa với điều kiện vốn thuận lợi hơn, nhất là khi chi phí huy động vẫn cao và những bất định bên ngoài còn lớn..
Dòng tiền nhàn rỗi dưới 6 tháng đang được nhiều ngân hàng nhắm tới bằng chứng chỉ tiền gửi có mức sinh lời quanh 7%/năm, thậm chí trên 8%. Khảo sát tại 6 ngân hàng trên địa bàn TP. Hà Nội cho thấy, đằng sau các mức lợi suất hấp dẫn được quảng bá là những cấu trúc phức tạp: thời gian nắm giữ vài tháng chưa chắc là kỳ hạn của chứng chỉ tiền gửi, còn “tất toán” đôi khi thực chất gắn với một giao dịch chuyển nhượng..
Đến cuối tháng 7/2026, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và TP. Đồng Nai đã đạt mức 6,329 triệu tỷ đồng, chiếm 31,2% tổng dư nợ tín dụng cả nước và tăng 9% so với cuối năm trước…
Tỷ giá USD/VND giảm trên thị trường liên ngân hàng và tại nhiều ngân hàng thương mại trong những phiên đầu tháng 9. Tuy nhiên, đà giảm này đứng trước phép thử từ bên ngoài khi khả năng Fed nâng lãi suất đang tăng lên, các ngân hàng trung ương nhóm G10 cũng họp trong tháng này giữa áp lực thắt chặt chính sách tiền tệ...
Rạng sáng 10.9 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Paris, bắt đầu thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, theo lời mời của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.
Khối doanh nghiệp FDI chiếm tới 80,1% giá trị xuất khẩu hàng hóa trong 8 tháng qua. Theo chuyên gia, con số này thể hiện doanh nghiệp Việt Nam đang càng ngày càng khó khăn hơn khi tham gia vào thị trường quốc tế. Thậm chí, dường như còn tạo thành hai nền kinh tế độc lập.