“Cốt lõi là sự bất cân xứng giữa thông tin doanh nghiệp cung cấp và yêu cầu của ngân hàng trong đánh giá, quản trị rủi ro.”
Ông Nguyễn Thanh Nghị, Tổng Giám đốc Thiên Minh Rating (TMR)
Nhiều năm nay, tài sản bảo đảm vẫn được xem là một trong những rào cản lớn nhất khi doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tiếp cận vốn ngân hàng. Tại hội thảo về tín dụng SME do Ngân hàng Nhà nước và Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa tổ chức mới đây, những bức bối quanh yêu cầu tài sản bảo đảm một lần nữa được các hiệp hội doanh nghiệp nêu ra. Song, các ngân hàng cho biết việc phải dựa nhiều vào tài sản bảo đảm cũng là chuyện “cực chẳng đã”.
Thực tế, SME đang là phân khúc khách hàng quan trọng của nhiều ngân hàng. Tại Agribank, khoảng 90% khách hàng doanh nghiệp là SME, chiếm khoảng 60% dư nợ cho vay doanh nghiệp, cao hơn mức khoảng 40% của toàn hệ thống. Ngân hàng này đang triển khai chương trình tín dụng 70.000 tỷ đồng dành cho SME trong hai năm tới.
Tại Vietcombank, tín dụng SME tăng 13,5% trong 8 tháng đầu năm, cao hơn mức tăng 7,8% của tín dụng chung. Cũng trong thời gian này, ngân hàng triển khai 4 chương trình giảm lãi suất cho SME, với mức giảm từ 0,5–2%/năm.
Theo ông Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, cho vay doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đang trở thành một hướng kinh doanh quan trọng của các ngân hàng thương mại. Cạnh tranh ngày càng lớn ở phân khúc này cũng buộc các nhà băng thay đổi cách thức cấp tín dụng.
“Không ngân hàng nào có thể chỉ bám vào tài sản bảo đảm, bởi như vậy sẽ mất lợi thế cạnh tranh. Các ngân hàng đang chuyển mạnh sang đánh giá dòng tiền, hiệu quả kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Xét cả số lượng khoản vay và doanh số cho vay, tỷ trọng cho vay dựa trên dòng tiền đang tăng, trong khi mức độ phụ thuộc vào tài sản bảo đảm có xu hướng giảm”, ông Tú cho biết.
“Cốt lõi là sự bất cân xứng giữa thông tin doanh nghiệp cung cấp và yêu cầu của ngân hàng trong đánh giá, quản trị rủi ro.”
Ông Nguyễn Thanh Nghị, Tổng Giám đốc Thiên Minh Rating (TMR)
Tại MB, sự dịch chuyển này đã đi vào những khoản tín dụng cụ thể. Theo ông Lê Quốc Minh, Phó Tổng Giám đốc MB, ngân hàng đã xây dựng mô hình đánh giá SME dựa trên doanh thu, năng lực tài chính và các nguồn dữ liệu của doanh nghiệp, trong đó có dữ liệu từ phần mềm kế toán.
Trong năm 2026, hơn 4.000 doanh nghiệp đã tiếp cận mô hình và hơn 3.500 tỷ đồng được giải ngân không có tài sản bảo đảm, hoàn toàn dựa trên doanh thu. Số hóa cũng giúp rút ngắn thời gian tiếp cận vốn: khoảng 85% doanh nghiệp vay vốn tại MB trong năm nay thực hiện hồ sơ trên kênh số; có hồ sơ SME chỉ mất khoảng ba ngày từ lúc đề xuất nhu cầu vay đến khi giải ngân.
Từ phía cộng đồng doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch VinaSME, cũng cho rằng tài sản bảo đảm không phải lúc nào cũng quyết định khả năng vay vốn. Theo quan sát của ông, những SME có uy tín, tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu, chẳng hạn trở thành nhà cung cấp cho các tập đoàn lớn, thường dễ tiếp cận tín dụng hơn. Thậm chí, ngân hàng có thể chủ động tìm đến mời vay.
“Giải quyết vốn cho doanh nghiệp không phải cứ yêu cầu ngân hàng đơn giản hóa thủ tục, ưu đãi hay giảm lãi suất. Ngân hàng có tiền thì cũng phải bảo đảm an toàn, chứ không thể cho vay bằng mọi giá. Cho nên vấn đề phải có hai chiều”, ông Thân nói.
Tuy nhiên, những trường hợp có thể vay vốn mà không cần tài sản bảo đảm vẫn chưa phổ biến trong khu vực SME. Các ngân hàng vẫn thận trọng với tín chấp, nhất là khi nhiều doanh nghiệp có vốn tự có mỏng nhưng nhu cầu vay lại lớn. Theo ông Đào Minh Tú, có doanh nghiệp vốn chủ sở hữu chỉ 1–2 tỷ đồng nhưng muốn vay hàng chục tỷ đồng, khiến ngân hàng khó mạnh tay cấp tín dụng.
Thông tin tài chính cũng là một trở ngại. Ngay cả khi doanh nghiệp đã có báo cáo tài chính được kiểm toán, trong một số trường hợp ngân hàng vẫn phải thẩm định lại và đối chiếu với dữ liệu thuế trước khi quyết định cho vay.
Ông Đào Minh Tú cho biết các ngân hàng thương mại đã đầu tư khá mạnh cho hệ thống dữ liệu phục vụ đánh giá, xếp loại doanh nghiệp. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng vẫn xây dựng và khai thác dữ liệu theo cách riêng, trong khi chưa có một hệ thống chung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Theo ông Tú, thông tin về pháp nhân, người đại diện theo pháp luật, hoạt động của doanh nghiệp và các dữ liệu liên quan cần được tập hợp, chuẩn hóa. Khi có nguồn thông tin đầy đủ, thống nhất và đáng tin cậy, ngân hàng sẽ thuận lợi hơn trong xếp hạng tín nhiệm, thẩm định và quyết định cấp tín dụng.
Từ thực tế cho vay, các ngân hàng cũng cho biết nhiều nguồn thông tin quan trọng phục vụ thẩm định SME hiện vẫn nằm rải rác.
“Hiện nay, việc đánh giá tín dụng đối với SME vẫn phụ thuộc nhiều vào hồ sơ do chính doanh nghiệp cung cấp. Trong khi đó, các nguồn dữ liệu khách quan về thuế, bảo hiểm, hải quan, thanh toán và những thông tin liên quan chưa được kết nối, chia sẻ đầy đủ. Thực trạng này có thể kéo dài quá trình thẩm định, đồng thời hạn chế khả năng mở rộng các mô hình cấp tín dụng dựa trên dữ liệu”, ông Lại Tiến Quân, Phó Tổng Giám đốc BIDV, cho biết.
“Không ngân hàng nào có thể chỉ bám vào tài sản bảo đảm, bởi như vậy sẽ mất lợi thế cạnh tranh.”
Ông Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam
Theo ông Quân, kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức tín dụng sẽ tạo nền tảng để phát triển các mô hình đánh giá tín dụng hiện đại, giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian phê duyệt và mở rộng khả năng tiếp cận vốn của SME.
Cụ thể hơn, ông Bạch Thành Long, Phó Tổng Giám đốc Vietcombank, đề xuất phát huy vai trò của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia (CIC) theo hướng trở thành đầu mối tổng hợp, kết nối và cung cấp thông tin phục vụ đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời, cần có cơ chế để doanh nghiệp chủ động chấp thuận chia sẻ dữ liệu với các tổ chức tín dụng.
Khi ngân hàng nhìn đủ rõ doanh nghiệp qua dữ liệu, “gánh nặng” tài sản bảo đảm cũng sẽ nhẹ đi với cả bên đi vay lẫn bên cho vay.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất cho vay chỉ từ 6,0%/năm (giảm tới 2,0%/năm so với mức lãi suất thông thường) tùy theo kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2% đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp...
Giá vàng thế giới giảm nhẹ trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu (16/10), hoàn tất một tuần đi xuống, dù tỷ giá đồng USD và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ cùng giảm...
Năm 2026 tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng: là năm đầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ba phần tư chặng đường của năm đã đi qua, nền kinh tế đạt những kết quả tích cực, song vẫn còn không ít vấn đề cần được giải quyết để hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả năm.
Hồi năm 2012, bản đồ nợ của châu Âu vẫn còn rất đơn giản: ở phía Bắc là nhóm các quốc gia cốt lõi với chi phí vay thấp, trong đó Đức đóng vai trò trung tâm, còn ở phía Nam là nhóm các quốc gia ngoại vi với nợ nần chồng chất...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.