
Tại Hội nghị Build to Last 2026 vào tháng 4, Saint-Gobain Việt Nam đã công bố nhà máy đạt Zero Carbon đầu tiên của ngành vật liệu xây dựng. Đồng thời, CEO Nguyễn Trường Hải chia sẻ mục tiêu nhân rộng mô hình “sản xuất không phát thải carbon” trên toàn hệ thống.
“Nhà máy đầu tiên luôn mất nhiều thời gian hơn, nhưng từ nhà máy thứ hai, thứ ba… trở đi sẽ nhanh hơn”, CEO Nguyễn Trường Hải chia sẻ trước gần 1.000 chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp, nhà đầu tư cùng đại diện các cơ quan quản lý tại Build to Last 2026.
Chỉ 3 tháng sau trong Diễn đàn VSCF 2026, Saint-Gobain Việt Nam tiếp tục công bố cột mốc mới trước hơn 1.200 đại biểu, rằng 6 nhà máy thuộc 4 cụm sản xuất trọng điểm đều đã đạt Zero Carbon (Phạm vi 1 và 2). Toàn bộ được xác minh độc lập, đưa Zero Carbon vượt ra khỏi mô hình thử nghiệm để nhân rộng quy mô, góp phần thực thi cam kết “Net Zero 2050” của Saint-Gobain.
Cụ thể, chuẩn Zero Carbon theo Phạm vi 1 & 2 được áp dụng cho 6 nhà máy: Nhà máy Vĩnh Tường và Weber miền Bắc (Hưng Yên), Nhà máy DURAflex và Weber (Quảng Trị), Nhà máy Vĩnh Tường miền Nam và Weber (TP.HCM). Mỗi năm, khoảng 7.900 tấn CO₂ sẽ được cắt giảm bởi chuỗi nhà máy xanh này.
Hành trình của Saint-Gobain Việt Nam, khi là doanh nghiệp tiên phong sản xuất xanh trên quy mô lớn, không dễ dàng. Thách thức lớn nhất là giải bài toán “vừa chạy, vừa xếp hàng”, bởi doanh nghiệp phải thực hiện chuyển đổi trên các nhà máy đang vận hành.
CEO Nguyễn Trường Hải cho hay, 6 nhà máy trên chiếm tỷ trọng đáng kể trong nguồn cung vật liệu xây dựng chủ lực của Saint-Gobain Việt Nam. Do đó, mỗi nhà máy phải duy trì tuyệt đối năng suất, chất lượng và cam kết giao hàng, không được phép gián đoạn chuỗi cung ứng. Đây là điểm khác biệt và khó khăn hơn nhiều, so với việc xây dựng nhà máy mới đồng bộ từ đầu.
Từ yêu cầu thực tế đó, chiến lược thay thế toàn bộ xe nâng diesel sang xe nâng điện, đã được ứng dụng cho toàn bộ 6 nhà máy nhằm triệt tiêu phát thải trực tiếp từ logistics nội bộ, mà vẫn đảm bảo hiệu suất kho vận hành.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn triển khai nhiều phương án linh hoạt, phù hợp với bối cảnh từng nhà máy, nhằm tăng hiệu quả chuyển đổi mà không ảnh hưởng đến vận hành. Ví dụ, nhà máy tấm xi măng sợi DURAflex tại Quảng Trị, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp bền vững dồi dào của địa phương (dăm gỗ, trấu và vỏ cây nghiền), để chuyển đổi hoàn toàn năng lượng nhiệt từ dầu diesel sang sinh khối.
Nhà máy Weber Hiệp Phước (TP.HCM) với diện tích mái lớn, đã được đầu tư vào lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại chỗ, giúp đáp ứng trực tiếp đến 36,5% nhu cầu điện năng, thay vì dựa hoàn toàn vào nguồn điện sạch từ bên ngoài.
Tốc độ nhân rộng quy mô “từ 1 lên 6” nhà máy Zero Carbon (Scope 1 & 2) chỉ trong hơn một năm chuyển đổi toàn diện, minh chứng cho cam kết "nói đi đôi với làm" bằng con số thực tế của Saint-Gobain Việt Nam. Cùng với đó là những bài học kinh nghiệm thực tiễn, để thúc đẩy sản xuất carbon thấp trong ngành vật liệu xây dựng.
Câu chuyện của Saint-Gobain Việt Nam cho thấy, chuyển đổi carbon thấp không nhất thiết bắt đầu bằng những dự án xây mới, mà có thể được nhân rộng từ chính các nhà máy hiện hữu nếu có lộ trình phù hợp. Lộ trình này cần bắt đầu bằng khả năng chuẩn hóa, tinh chọn giải pháp có khả năng nhân rộng khắp hệ thống nội bộ, khả thi về kinh tế và dễ dàng tích hợp vào hệ sinh thái chuỗi.
Cụ thể hơn, doanh nghiệp đã xây dựng cả lộ trình kiểm soát chi phí và đảm bảo hiệu quả vận hành, đóng gói thành mô hình có thể nhân rộng, linh hoạt “thêm, bớt” giải pháp. Gói mô hình này tính toán đến cả hiệu quả kết nối được với hệ sinh thái địa phương và đối tác cung ứng, nhằm tối ưu hóa dòng chảy carbon thấp trên toàn chuỗi giá trị.
CEO Nguyễn Trường Hải cho biết thêm: “Saint-Gobain Việt Nam mong muốn tạo cảm hứng, thay vì tạo khoảng cách. Trái với suy nghĩ ‘Đó là câu chuyện chỉ tập đoàn lớn mới làm được’, thị trường sẽ nhìn vào và nắm bắt ‘Đây là hướng đi mới của ngành - đủ thực tế, đủ hiệu quả và đủ tin cậy’ để lan rộng mô hình”.
Một khi toàn ngành đồng lòng chuyển đổi sản xuất xanh trên quy mô lớn, các nhà cung ứng vật liệu xây dựng bền vững có thể thúc đẩy mạnh mẽ toàn bộ chuỗi giá trị - từ nhà thầu đến chủ đầu tư - cùng chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp.
Việt Nam đang có tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ. Thậm chí, với những nguồn mỏ dầu khí đang cạn kiệt còn mở ra cơ hội lưu trữ carbon. Tận dụng tốt các nguồn mỏ này sẽ tạo ra CCS, Carbon Capture & Storage – một thị trường mới đầy tiềm năng, quy mô hàng chục tỷ USD.
Ngày 8/9 tới tại TP. HCM, Thương vụ Ý tại Việt Nam (ITA) phối hợp cùng Tập đoàn Triển lãm Ý (Italian Exhibition Group - IEG) tổ chức Hội thảo chuyên đề “SIGEP vươn ra thế giới - Hành trình tại Việt Nam”.
Đợt rà soát hành chính định kỳ biện pháp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp hướng vào ba nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm: pin năng lượng mặt trời, mật ong thô và túi dệt...
Trên những cánh đồng dứa ở Ngọc Liên, lá dứa sau thu hoạch từng được đốt bỏ hoặc vùi xuống đất. Nay, thứ phụ phẩm ấy được Hợp tác xã Đồng Tâm thu gom, tách thành những sợi tơ trắng ngà, tạo thêm nguồn thu và giảm áp lực môi trường...
Bầu trời đang trở thành một “mặt trận” tăng trưởng mới của kinh tế toàn cầu. Từ vệ tinh, dữ liệu không gian đến UAV (phương tiện bay không người lái), kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp đang mở ra những thị trường và ngành nghề mới.
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Việt Nam đang có tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ. Thậm chí, với những nguồn mỏ dầu khí đang cạn kiệt còn mở ra cơ hội lưu trữ carbon. Tận dụng tốt các nguồn mỏ này sẽ tạo ra CCS, Carbon Capture & Storage – một thị trường mới đầy tiềm năng, quy mô hàng chục tỷ USD.