Theo yêu cầu của Bộ Tài chính, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) bước đầu có một số ý kiến đối với đề nghị rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh, đồng thời đề xuất cắt giảm, sửa đổi, bổ sung Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật Đầu tư.
VCCI cho rằng Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Luật Đầu tư năm 2020 có xu hướng tăng lên qua các năm, do các luật chuyên ngành ban hành sau bổ sung thêm ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Về mặt thực tế, số lượng ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện lớn hơn rất nhiều so với số lượng trong Danh mục, bởi vì phạm vi ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong Danh mục khá lớn, trong đó có nhiều ngành nghề nhỏ cũng là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Trong khi đó, từ năm 2020 đến nay, chưa có đợt rà soát đánh giá tổng thể Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Luật Đầu tư 2020 để nhận diện tính phù hợp của các ngành nghề trong Danh mục.
Qua các đợt rà soát từ trước, phản ánh của doanh nghiệp, hiệp hội và trong bối cảnh tình hình hình kinh tế hiện nay, VCCI cho rằng yêu cầu thúc đẩy môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, việc đánh giá để cắt giảm, sửa đổi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Luật Đầu tư là cần thiết.
Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư 2020 quy định “ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.
Quy định này đã đưa ra mục tiêu khi xác định ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, phải hướng đến kiểm soát các hoạt động kinh doanh trong các ngành nghề này tác động đến các lợi ích công cộng như an ninh quốc gia, quốc phòng, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.
Theo đó, dựa trên quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư 2020, VCCI kiến nghị bãi bỏ 16 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, gồm: Kinh doanh dịch vụ kế toán; kinh doanh dịch vụ làm thủ tục hải quan; xuất khẩu gạo; kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng thực phẩm đông lạnh; hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tại Việt Nam; kinh doanh dịch vụ việc làm; kinh doanh dịch vụ cho thuê lại lao động; kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng xe ô tô; kinh doanh dịch vụ đóng mới, hoán cải, sửa chữa, phục hồi phương tiện thủy nội địa; kinh doanh dịch vụ đóng mới, hoán cải, sửa chữa tàu biển; hoạt động xây dựng của nhà thầu nước ngoài; kinh doanh dịch vụ tư vấn du học; kinh doanh dịch vụ phổ biến phim; hoạt động in, đúc tiền...
Như với kinh doanh dịch vụ kế toán, VCCI cho rằng việc xác định “kinh doanh dịch vụ kế toán” là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện dường như là chưa hợp lý. Bởi trước thời điểm 2014 khi Luật Kế toán 2014 được ban hành thì kinh doanh dịch vụ kế toán được xem là một ngành, nghề kinh doanh thông thường. Trong suốt thời gian trước đó, hoạt động này cũng không được ghi nhận bất kỳ rủi ro nào tác động bất lợi đáng kể đến các lợi ích công cộng. Điều này cho thấy thực tiễn đã chứng minh hoạt động kinh doanh này không cần thiết phải kiểm soát bằng điều kiện kinh doanh
Đối với dịch vụ làm thủ tục hải quan, theo VCCI, hoạt động cung cấp dịch vụ này hầu như không tác động tới các lợi ích công cộng đến mức buộc phải kiểm soát bằng điều kiện kinh doanh.
Với kinh doanh xuất khẩu gạo, theo VCCI, gạo được xem là loại hàng hóa liên quan đến an ninh lương thực quốc gia , vì vậy các chính sách quản lý đặc thù liên quan gạo có thể là cần thiết. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành đã có nhiều quy định để đảm bảo an ninh quốc gia, quốc phòng và các lợi ích công cộng liên quan đến sản phẩm gạo. Cụ thể, việc cân đối nguồn thóc, gạo hàng hóa xuất khẩu, các yêu cầu về dự trữ lưu thông … đã được quy định khá rõ trong Nghị định 107/2018/NĐ-CP . Do đó, yêu cầu về điều kiện đối với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo để đảm bảo cho lợi ích công cộng là chưa phù hợp…
Ngoài ra, VCCI kiến nghị thu hẹp và xem xét phạm vi của 5 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, gồm: Nghiên cứu chế tạo, thử nghiệm, sửa chữa, bảo dưỡng tàu bay không người lái, phương tiện bay khác, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay khác; kinh doanh phân bón; kinh doanh giống thủy sản; kinh doanh dịch vụ khai thác tài nguyên nước và kinh doanh vàng.
Giải thích kiến nghị này, lấy dẫn chứng như với kinh doanh vàng, theo VCCI, vàng trang sức thủ công mỹ nghệ được xem là loại hàng hóa thông thường. Kinh doanh loại hàng hóa này không tác động đến lợi ích công cộng như các loại vàng khác trong cùng nhóm “Kinh doanh vàng”.
Bản thân các điều kiện kinh doanh đối với hoạt động kinh doanh vàng trang sức thủ công mỹ nghệ không có tính đặc thù của một ngành nghề kinh doanh có điều kiện (tức là không rõ kiểm soát yếu tố tác động đến lợi ích công cộng nào) như: Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; có địa điểm, cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.
Trong quá trình thực thi Nghị định 24/2012/NĐ-CP, các doanh nghiệp kinh doanh vàng đã nhiều lần kiến nghị về việc loại bỏ hoạt động kinh doanh vàng trang sức, thủ công mỹ nghệ ra khỏi Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.