
Chính phủ vừa ban hành nghị quyết về phiên họp thường kỳ tháng 3/2015, trong đó “đặt hàng” Ngân hàng Nhà nước phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay trung, dài hạn từ 1-1,5%/năm bằng biện pháp thị trường.
Không phải đến lúc này mục tiêu trên mới được đặt ra.
Trước đó, tổng kết năm 2014 và định hướng năm 2015, Ngân hàng Nhà nước cũng đã kỳ vọng sẽ tiếp tục giảm được lãi suất cho vay VND trung dài hạn với mức độ như trên.
Xa hơn, trong quý 4/2014, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cũng đã kêu gọi (qua thông tin Phó thống đốc Nguyễn Thị Hồng cung cấp tại một buổi họp báo thường kỳ) các ngân hàng thương mại nhà nước thực hiện áp lãi suất cho vay VND tối đa 10%/năm đối với các khoản trung dài hạn.
Nhưng suốt thời gian qua, sau khoảng hai năm lãi suất huy động đã giảm sâu, tỷ trọng các khoản vay có lãi suất trên 13%/năm vẫn còn khá lớn, các khoản trên 10%/năm càng lớn hơn nữa.
Những khoản chịu lãi suất cao nói trên chủ yếu là trung dài hạn. Vì sao các ngân hàng vẫn treo cao như vậy, hay tính khả thi của mục tiêu giảm từ 1-1,5%/năm nói trên đến đâu?
Thứ nhất, toàn bộ gần 4 triệu tỷ đồng tổng dư nợ của hệ thống các tổ chức tín dụng hiện đã ký rồi. Theo đó, mức độ kẹt lãi suất cao của các khoản trung dài hạn và khả năng giảm được 1-1,5%/năm phải chờ đợi các kỳ điều chỉnh, mức độ điều chỉnh.
Thứ hai, mặc dù có mục tiêu và chủ trương, nhưng việc điều chỉnh phụ thuộc vào việc chia sẻ lợi nhuận của các nhà băng hay không. Thực tế là rất hạn chế, nếu nhìn vào “sự bất thường” luôn có trên biểu lãi suất huy động hai năm gần đây.
Tại nhiều ngân hàng thương mại, biểu lãi suất huy động có sự đột biến ở kỳ hạn 12 tháng hoặc 13. Ví dụ, lãi suất huy động kỳ hạn 11 tháng chỉ 5,8%/năm, nhưng 12 tháng lại vọt lên tới 7,5%/năm; hay kỳ hạn 12 tháng chỉ 6,5%/năm, nhưng 13 tháng lại đột biến tới 7,6%/năm…
Vì sao vậy? Có phải ngân hàng rất khao khát huy động vốn chỉ riêng những kỳ hạn có lãi suất ngất ngưởng đó?
Câu trả lời tùy thuộc vào thực tế huy động của mỗi ngân hàng. Và sẽ không bất ngờ nếu khách hàng đến gửi tiền mà nhận được lời từ chối: tạm thời vì cơ cấu vốn nên họ không nhận gửi ở kỳ hạn đó.
Còn chiếu sang hoạt động cho vay, việc ngân hàng áp lãi suất huy động kỳ hạn 12 hoặc 13 tháng ngất ngưởng như vậy cho một lý giải quan trọng: nó được dùng làm tham chiếu để ấn định lãi suất cho vay, và dĩ nhiên mốc tham chiếu càng cao thì càng có lợi.
Theo hợp đồng vay vốn, các khoản trung dài hạn, lãi suất ban đầu được các ngân hàng chào chỉ 5-8%/năm, thậm chí chấp luôn 0%/năm, nhưng đến kỳ điều chỉnh bản chất của nó mới thực sự lộ diện.
Thỏa thuận hợp đồng ghi rõ, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ hàng quý hoặc 6 tháng, theo lãi suất huy động của ngân hàng đó kỳ hạn 12 tháng hoặc 13 tháng (loại mà họ đang áp cao ngất ngưởng) cộng thêm biên độ 3-4%/năm.
Đến kỳ điều chỉnh, lãi suất vay phải căn theo mốc tham chiếu lãi suất huy động rất cả cộng với biên độ nữa, khách hàng mới ngã ngửa.
Khi đó, có hai lựa chọn: một là tiếp tục chấp nhận lãi vay cao; hai là tìm cách trả nợ trước hạn và “cắn răng” chịu phí phạt không hề nhẹ.
Khi thanh toán QR xuyên biên giới ngày càng mở rộng, bài toán không còn dừng ở việc kết nối thêm bao nhiêu quốc gia mà ở khả năng biến một thao tác quét mã đơn giản thành sức mua, doanh thu cho doanh nghiệp và dòng tiền minh bạch cho nền kinh tế. Muốn vậy, hệ sinh thái cần chuyển từ “kết nối được” sang “sử dụng được và sử dụng hiệu quả”.
Đại diện cơ quan quản lý và thành viên thị trường đề xuất thí điểm mô hình xã hội hóa, đưa thanh toán QR xuyên biên giới vào các khu vực tập trung đông du khách quốc tế như phố đi bộ, phố ẩm thực, chợ đêm, làng nghề và khu kinh tế đêm. Từ đó, hình thành các “tuyến phố thanh toán số” thông suốt, liền mạch, thúc đẩy chi tiêu của du khách nước ngoài...
Một thao tác quét mã QR kéo theo cả chuỗi xử lý giữa người dùng, điểm bán, ngân hàng, trung gian thanh toán và các nền tảng công nghệ, đặc biệt khi giao dịch vượt qua biên giới. Điều này mở ra những rủi ro về gian lận, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ từ toàn bộ hệ thống…
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cảnh báo hơn 5,1 triệu lượt khách hàng; gần 1,7 triệu lượt đã tạm dừng hoặc hủy giao dịch sau cảnh báo, với tổng giá trị trên 5,7 nghìn tỷ đồng.
Từ sân bay, khách sạn, nhà hàng đến các điểm mua sắm, thanh toán QR xuyên biên giới đang mở rộng thêm những điểm chạm trong hành trình của du khách quốc tế. Khi người dùng có thể thanh toán bằng ứng dụng quen thuộc, các điểm bán trong nước có thêm cơ hội tiếp cận và giữ lại dòng chi tiêu từ thị trường khách quốc tế…
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, Việt Nam có lợi thế về sản xuất, logistics và mạng lưới các hiệp định thương mại FTA dày đặc. Tuy nhiên, để biến sự quan tâm của khách hàng quốc tế thành hợp đồng thực tế, thành “đơn hàng… là bài toán không hề đơn giản.