Ngày 26/9, tại Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) phối hợp với Đại sứ quán Australia tại Việt Nam, Đại sứ quán Việt Nam tại Australia và Phòng Thương mại Australia tại Việt Nam (AusCham) tổ chức Diễn đàn kinh tế Việt Nam - Australia 2025, với chủ đề "Xây dựng cầu nối thịnh vượng chung”.
Phát biểu tại Diễn đàn, Phó Đại sứ Australia tại Việt Nam Renee Deschamps, nhấn mạnh chủ đề của diễn đàn thể hiện rất rõ tinh thần trong quan hệ hợp tác giữa Australia và Việt Nam.
Mối quan hệ Việt Nam - Australia được xây dựng trên nền tảng gắn kết nhân dân hai nước, sự tin cậy và những lợi ích chung, cùng hợp tác phát triển kinh tế hai nước cũng như khu vực nhằm bảo đảm thịnh vượng chung.
Việc hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện thể hiện sự tin cậy chiến lược và cam kết hợp tác lâu dài, toàn diện trên nhiều lĩnh vực quan trọng; trong đó có các lĩnh vực như chuyển đổi số, tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu, năng lượng sạch, đổi mới sáng tạo và giáo dục.
ĐẨY MẠNH HƠN NỮA HỢP TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC
PGS.TS. Đào Thanh Trường, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định: "Diễn đàn là minh chứng rõ ràng cho những đóng góp tích cực của Trường Đại học Kinh tế và Đại học Quốc gia Hà Nội trong việc triển khai các nghiên cứu đột phá, phù hợp xu thế toàn cầu".
Với sự tham gia của các chuyên gia hàng đầu, diễn đàn cung cấp luận cứ quan trọng phục vụ quá trình hoạch định, đánh giá chính sách quốc gia, đặc biệt trong phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trong đó có Australia.
Đây là bước tiến quan trọng, giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực và toàn cầu, định hình một tương lai phát triển bền vững đáp ứng yêu cầu khắt khe của kỷ nguyên số.
PGS.TS.Đào Thanh Trường cho biết hơn 80.000 sinh viên Việt Nam đã và đang học tập tại Australia và hơn 200 cơ sở giáo dục của hai nước tham gia hợp tác đa dạng. Các trường đại học của Việt Nam và Australia đã cùng thực hiện hơn 5.000 công trình nghiên cứu.
Bổ sung thêm, GS. Andreas Hauskrecht của Đại học bang Indiana nhấn mạnh: "Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ nhờ vào động lực xuất khẩu và vốn đầu tư nước ngoài (FDI)".
Dù tình hình phát triển kinh tế vĩ mô có chiều hướng tích cực, song GS.Andreas Hauskrecht cho rằng Việt Nam đang phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động thương mại và FDI. Bên cạnh đó, vẫn chưa có hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ từ các dự án FDI sang các doanh nghiệp nội địa của Việt Nam.
Ông lấy ví dụ những dự án FDI lớn như của như nhà máy của Samsung tại tỉnh Bắc Ninh, dù đem lại kim ngạch xuất khẩu lên tới hơn 54 tỷ USD, nhưng giá trị nhập khẩu nguyên liệu đầu vào tư các quốc gia khác đã lên tới 50 tỷ USD. Điều này cho thấy các ngành công nghiệp nội địa của Việt Nam chưa thâm nhập được vào các chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI trên chính đất nước của mình.
Để tạo được hiệu ứng lan tỏa trong nền kinh tế, GS. Hauskrecht nhấn mạnh việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng nhân lực là những điều kiện cốt lõi. Theo đó, Việt Nam cần phải đẩy mạnh những liên kết về nghiên cứu, đào tạo và trao đổi kinh nghiệm với những quốc gia có nền khoa học phát triển như Australia.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng số hóa, xanh và bền vững, PGS.TS. Đào Thanh Trường nhận định cả Việt Nam và Australia đều đứng trước những cơ hội, thách thức mới.
Việt Nam có lợi thế về lực lượng lao động trẻ, chi phí cạnh tranh, vị trí địa lý chiến lược ở Đông Nam Á, trong khi Australia sở hữu công nghệ tiên tiến, hệ thống giáo dục chất lượng cao và năng lực quản trị của một nền kinh tế phát triển.
Những đặc điểm có tính bổ trợ này là một nền móng vững chắc để 2 quốc gia cùng xây dựng một mối quan hệ sâu sắc, bền vững, từ đó nâng cao vị thế của cả Việt Nam và Australia trong khu vực và trên thế giới.
TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT KINH TẾ SỐ
Bên cạnh tiềm năng thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, các chuyên gia cũng đánh giá Việt Nam và Australia cũng có thể cùng xây dựng "một cây cầu hợp tác" khác trong lĩnh vực kinh tế số.
GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo - Đại học Kinh tế Quốc dân, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam - Australia, cho biết quan hệ hợp tác trong lĩnh vực chuyển đổi số giữa 2 nước đã được hình thành từ lâu, khi Australia là nước giúp đỡ Việt Nam xây dựng báo cáo kinh tế số đầu tiên.
Với dân số hơn 100 triệu người, chủ yếu thuộc thế hệ trẻ và có hiểu biết về công nghệ thông tin, Việt Nam đang sở hữu một nền kinh tế số nhiều tiềm năng và có tốc độ phát triển cao. Quy mô nền kinh tế số lõi của Việt Nam đến nay đã đạt khoảng 45 tỷ USD.
Trong khi đó, với hạ tầng phát triển, có quy mô công nghệ tốt và dân số khoảng 26 triệu người, quy mô nền kinh tế số của Australia đã đạt 76,53 tỷ USD.
"Nền kinh tế số ở Việt Nam mới chỉ ở mức lõi, chưa có sự lan tỏa lớn với nền kinh tế quốc dân, chưa đạt sự trưởng thành số. Bên cạnh đó, dù có dân số lớn, sự phát triển nhân lực số của Việt Nam vẫn chưa cao so với các quốc gia khác trong khu vực", GS.TS.Đạt nhận định; đồng thời cho rằng trong bối cảnh hiện nay, có nhiều dư địa để Australia có thể hỗ trợ Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế số, chuyển đổi số.
GS.TS. Đạt đề nghị phía Australia giúp Việt Nam đào tạo nhân lực phục vụ chuyển đổi số, tư vấn xây dựng khung kỹ năng chuyển đổi số quốc gia - một điều kiện rất quan trọng để tạo ra mạng lưới nghiên cứu, đào tạo trong lĩnh vực này. Với nền tảng dân số trẻ và có tinh thần đổi mới sáng tạo, Việt Nam cũng có thể trở thành nơi để Australia có thể thử nghiệm những sáng kiến về đổi mới sáng tạo.
Theo GS.TS. Đạt, một trong những yếu tố quan trọng để có nền kinh tế số vững mạnh là dân số lớn. Trung Quốc có tỷ trọng kinh tế số đứng đầu thế giới vì thị trường nội địa của nước này có hơn 1 tỷ dân.
Đề xuất thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo giữa hai quốc gia, GS.TS. Đạt cho rằng đây sẽ nơi các doanh nghiệp khởi nghiệp của Việt Nam có thể kết nối trực tiếp với các quỹ đầu tư mạo hiểm từ Australia.
Đồng tình, bà Cecilia Brennan, Tham tán Kinh tế của Đại sứ quán Australia tại Việt Nam, cho biết hoạt động phát triển kinh tế số là một lĩnh vực hợp tác mà Australia rất quan tâm tại Việt Nam. Trong thời gian qua, Australia và Việt Nam đang đàm phán một biên bản ghi nhớ hợp tác về phát triển kinh tế số với nội dung toàn diện, bao trùm nhiều hoạt động như đào tạo phát triển nhân lực, hợp tác xây dựng các ngành trong nền kinh tế số. Hy vọng biên bản ghi nhớ này sẽ sớm được ký kết.
Chỉ dẫn địa lý không chỉ là “tấm vé thông hành” khẳng định uy tín sản phẩm, mà còn là công cụ nâng cao giá trị đặc sản địa phương. Tuy nhiên, để chuyển hóa lợi thế pháp lý này thành giá trị thương mại bền vững, các địa phương và doanh nghiệp cần vượt qua nhiều điểm nghẽn trong tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và xúc tiến thị trường...
Việc xây dựng Nghị quyết về FTZ và ILZ tại TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng tạo thêm động lực cho thương mại, logistics và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng cơ chế mới phải thực sự khác biệt, linh hoạt và có khả năng triển khai nhanh, nếu không FTZ khó tạo ra giá trị mới...
Xuất khẩu cà phê Việt Nam đang đứng trước bài toán nâng giá trị thay vì chỉ gia tăng sản lượng. Với lợi thế lớn về Robusta, việc kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu, phân hóa sản phẩm và đổi mới phương thức thu mua được xem là những yêu cầu then chốt để nâng giá trị hạt cà phê...
Thương mại điện tử đang giúp doanh nghiệp Việt tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng toàn cầu, trong khi AI, dữ liệu lớn và các nền tảng số có thể làm thay đổi cách xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, công nghệ không xóa bỏ những rào cản căn bản của xuất khẩu. Để hàng Việt đi xa, cần kết nối dữ liệu thị trường, tiêu chuẩn, logistics, nền tảng số và nhà mua hàng thành một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp...
Xuất khẩu phân bón Việt Nam bứt phá mạnh mẽ cả về lượng lẫn giá trị, trong khi nhập khẩu giảm sâu, khẳng định năng lực sản xuất nội địa được nâng cao. Tận dụng tốt nhu cầu quốc tế, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như urê, NPK, DAP để mở rộng thị trường và gia tăng kim ngạch...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Theo kết quả chấm điểm về giải ngân vốn đầu tư công tháng 8/2026 do Bộ Tài chính vừa công bố, Thanh Hóa nằm trong tốp các tỉnh, thành phố có tốc độ giải ngân đầu tư công rất tốt, xếp thứ 17 trong số 34 tỉnh, thành phố về giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; xếp thứ 12 về giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 được phép kéo dài sang năm 2026. Kết quả này tiếp tục cho thấy sự chuyển động tích cực trong tổ chức thực hiện, đồng thời tạo thêm động lực để tỉnh khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ các dự án, đưa nguồn vốn đầu tư thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.