Với quy mô dân số khoảng 8,8 triệu người, mỗi ngày Thủ đô phát sinh 8.500 tấn chất thải rắn sinh hoạt, trong đó 7.600 tấn được thu gom, vận chuyển và xử lý tập trung. Tỷ lệ thu gom rác thải hiện đạt mức cao, khu vực đô thị đạt 100%, khu vực nông thôn đạt 98%. Đây là kết quả thể hiện nỗ lực rất lớn của Thành phố trong bối cảnh địa bàn rộng, mật độ dân cư cao, lượng rác phát sinh phức tạp.
Tuy nhiên, phía sau những con số tích cực ấy còn không ít “điểm nghẽn” cần tháo gỡ. Cụ thể, công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Hà Nội vẫn tồn tại nhiều bất cập mang tính cấu trúc. Tình trạng điểm tập kết rác hở, nước rỉ rác, mùi hôi tại những khu trung chuyển xuất hiện phổ biến ở nhiều nơi; việc phân loại rác tại nguồn triển khai chưa đồng bộ; phương tiện thu gom ở một số khu vực còn thủ công; hạ tầng tái chế, xử lý chưa theo kịp tốc độ phát sinh chất thải.
Vì vậy, nếu tiếp tục duy trì mô hình “thu gom - vận chuyển - chôn lấp” truyền thống, các đô thị lớn sẽ khó đạt được mục tiêu phát triển xanh và giảm phát thải.
Trước thực tế đó, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ dừng ở việc nâng cao hiệu quả thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải, mà còn đòi hỏi Hà Nội phải tái cấu trúc toàn diện mô hình quản lý chất thải rắn theo hướng hiện đại, thông minh và tuần hoàn.
Chia sẻ tại tọa đàm về chất thải rắn và vệ sinh môi trường trong đô thị xanh, thông minh mới đây, ông Nguyễn Thanh Sơn, Phó Tổng giám đốc URENCO, cho rằng quản lý chất thải rắn sinh hoạt và vệ sinh công cộng phải được xác định là một cấu phần quan trọng của hạ tầng đô thị xanh - thông minh. Theo đó, các điểm tập kết, trạm trung chuyển, cơ sở tái chế, xử lý và phục hồi tài nguyên cần tích hợp ngay trong quy hoạch đô thị.
“Muốn xây dựng đô thị xanh thì phải thay đổi tư duy quản lý rác thải theo chuỗi giá trị tổng hợp. Trong đó, phân loại tại nguồn là nền tảng; thu gom, vận chuyển xanh là điều kiện vận hành; xử lý hiện đại là giải pháp giảm chôn lấp; còn cơ chế tài chính và chính sách kinh tế xanh là động lực thúc đẩy toàn hệ thống”, ông Sơn lưu ý.
Theo ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, phân loại rác tại nguồn phải tổ chức thực chất, gắn chặt với hệ thống thu gom và xử lý sau phân loại. Nếu người dân thực hiện phân loại nhưng khâu thu gom vẫn trộn lẫn, niềm tin xã hội sẽ bị ảnh hưởng và việc thay đổi hành vi khó đạt hiệu quả lâu dài.
Tuy nhiên, việc “xanh hóa” phương tiện vệ sinh môi trường cũng nên xem là nhiệm vụ quan trọng. Thành phố đã định hướng từng bước thay thế phương tiện thủ công bằng xe cơ giới hiện đại, ưu tiên sử dụng xe điện chuyên dùng và phương tiện đạt tiêu chuẩn khí thải cao nhằm giảm phát thải khí nhà kính. Cơ giới hóa không chỉ giúp nâng cao hiệu quả thu gom, giảm chi phí vận hành mà còn góp phần thay đổi diện mạo đô thị, hạn chế tình trạng rác tồn đọng và giảm tác động tiêu cực tới môi trường sống của người dân.
Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số trong quản lý chất thải rắn cũng là xu hướng tất yếu. Hà Nội đang định hướng xây dựng Trung tâm điều hành quản lý chất thải rắn tập trung nhằm kết nối toàn bộ dữ liệu từ khâu phát sinh, thu gom, vận chuyển đến xử lý. Khi hệ thống này vận hành, công tác quản lý sẽ từng bước chuyển sang điều hành theo thời gian thực. Các công nghệ như: GPS, camera, cảm biến và trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tối ưu hóa lộ trình vận chuyển, giám sát chất lượng dịch vụ và phát hiện vi phạm.
Các chuyên gia cũng lưu ý trong quá trình xây dựng đô thị thông minh, quản lý chất thải rắn nên được tích hợp đồng bộ với quy hoạch hạ tầng giao thông, năng lượng và môi trường. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả vận hành mà còn giảm chi phí xã hội và hạn chế phát sinh “điểm nóng” môi trường trong tương lai.
Đề cập đến giải pháp dài hạn, theo PGS.TS. Nghiêm Vân Khanh, Đại học Kiến trúc Hà Nội, Thành phố phải chú trọng đồng thời việc giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn; kiểm soát phát thải trong toàn bộ vòng đời chất thải; hoàn thiện quy hoạch thiết kế hạ tầng kỹ thuật hệ thống thu gom; nâng cao năng lực và cơ chế tài chính; tăng cường tái chế, tái sử dụng chất thải; đổi mới công nghệ thu gom; cải thiện ý thức và sự tham gia của cộng đồng.
Đồng quan điểm, GS.TS Lưu Đức Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và phát triển hạ tầng, nhận định công nghệ hay hạ tầng hiện đại sẽ khó phát huy hiệu quả nếu thiếu sự đồng hành của cộng đồng. Vì vậy, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi xã hội phải được xem là yếu tố trung tâm trong quản lý chất thải rắn đô thị. “Truyền thông về bảo vệ môi trường cần chuyển từ tuyên truyền phong trào sang định hướng hành vi cụ thể. Trường học phải là nơi hình thành thói quen phân loại rác cho thế hệ trẻ; tổ dân phố là nơi duy trì nếp sống xanh; còn báo chí và nền tảng số giữ vai trò lan tỏa các mô hình hiệu quả, đồng thời giám sát và phê phán hành vi vi phạm”, ông Hải nhấn mạnh.
Trong bối cảnh Hà Nội đang đứng trước áp lực lớn về quản lý chất thải rắn sinh hoạt và duy trì vệ sinh môi trường do tốc độ đô thị hóa nhanh, quy mô dân số lớn, nhu cầu phát triển cao, Thành phố cũng xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể.
Mới đây, UBND TP. Hà Nội đã ban hành Kế hoạch phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường; giảm thiểu phát sinh, phân loại, thu gom, xử lý rác thải vì Thủ đô Sáng - Xanh - Sạch - Đẹp.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, 100% chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý theo quy định; 100% các phường, xã tổ chức phân loại rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình, cá nhân; bố trí đủ các điểm tập kết và thu gom rác thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi trường; chấm dứt tình trạng đổ, đốt rác thải không đúng quy định tại cộng đồng; 100% khu dân cư, tổ dân phố có bổ sung nội dung về bảo vệ môi trường vào hương ước, quy ước; xây dựng, duy trì và nhân rộng mô hình tự quản về môi trường.
Phấn đấu đến năm 2030, 100% chất thải rắn sinh hoạt được vận chuyển tới các khu xử lý tập trung của Thành phố được xử lý bằng phương pháp đốt phát điện/công nghệ tiên tiến; xóa bỏ các “điểm đen” về ô nhiễm môi trường; 100% các bãi rác tự phát gây ô nhiễm môi trường được đóng cửa, cải tạo, phục hồi môi trường; 100% các xã, phường huy động hiệu quả các nguồn lực để đầu tư, xây dựng và phát triển phương tiện, trang thiết bị, hạ tầng kỹ thuật phân loại, thu gom, tái chế, xử lý rác thải đồng bộ, ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện môi trường, kỹ thuật hiện có tốt nhất; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về quản lý rác thải.
TP. Hồ Chí Minh đang nỗ lực thực hiện chỉ tiêu phát triển 181.257 căn nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê giai đoạn 2026–2030, bao gồm 129.257 căn để bán, cho thuê mua và 52.000 căn nhà ở cho thuê. Đây là một phần trong kế hoạch phát triển đô thị bền vững của Thành phố, nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở ngày càng tăng của người dân…
Vượt ra ngoài khuôn khổ của một sản phẩm nhà ở thấp tầng, Rivera Nagomi tại đại đô thị Waterpoint được phát triển theo định hướng chuyển hóa triết lý sống Nagomi của Nhật Bản thành những giá trị trải nghiệm cụ thể.
Với người trẻ Hà Nội, căn nhà đầu tiên ngày càng được cân nhắc trên nhiều yếu tố, từ khả năng tài chính, tiến độ thanh toán đến vị trí và sự thuận tiện trong cuộc sống hàng ngày. Hạ tầng giao thông phát triển cũng mở rộng thêm những lựa chọn phù hợp với nhu cầu của thế hệ cư dân trẻ.
Bước vào quý cuối năm, nhà phố CATA tại Nam Long II Central Lake tiếp tục thu hút sự quan tâm nhờ lợi thế vị trí trung tâm, thiết kế đa công năng và đặc biệt là chính sách thanh toán được chia thành nhiều đợt đi kèm loạt ưu đãi thiết thực, giúp người mua chủ động hơn về tài chính khi sở hữu tài sản trên trục đại lộ 47m gắn với đà phát triển của Nam Cần Thơ.
Lễ khởi công InterCentral cùng dự án hạ tầng kỹ thuật xung quanh đánh dấu sự trở lại của Hateco trên thị trường bất động sản. Trong một giai đoạn thị trường thận trọng hơn, Hateco chọn hành động thực chất để tạo niềm tin trước khi mở rộng câu chuyện về sản phẩm.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và CHDCND Lào, cho rằng cần xây dựng chính sách hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, giúp giảm chi phí vay không chỉ cho Nhà nước mà cả những doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín nhiệm quốc gia.