
Thái Lan là thị trường tiêu thụ lớn nhất dầu thô của Việt Nam khi chiếm 41% tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này với gần 94,35 triệu USD.
Số liệu từ Tổng cục Hải quan cho thấy, Việt Nam đã xuất khẩu được 486.712 tấn dầu thô trong tháng 1/2019, tương đương 225,79 triệu USD, tăng 39% về lượng và tăng 49% về kim ngạch so với tháng 12/2018 và tăng 26% về lượng, tăng 10% về kim ngạch so với tháng 1/2018.
Mức giá xuất khẩu dầu thô đạt trung bình 463,9 USD/tấn, tăng 7,4% so với tháng 12/2018 nhưng giảm 12,5% so với tháng 1/2018.
Về thị trường xuất khẩu, Thái Lan là thị trường lớn nhất của dầu thô Việt Nam trong tháng đầu tiên năm 2019.
Cụ thể, xuất khẩu dầu thô sang thị trường này chiếm 41% tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam, đạt 199.349 tấn, kim ngạch gần 94,35 triệu USD.
Xuất khẩu dầu thô sang Thái Lan đã tăng mạnh 81,8% về lượng và tăng 88,3% về kim ngạch so với tháng 12/2018 và tăng 185% về lượng và tăng 146,7% về kim ngạch so với tháng 1/2018.
Mặc dù lượng và kim ngạch tăng mạnh, nhưng giá xuất khẩu dầu thô sang Thái Lan chỉ tăng nhẹ 3,5% so với tháng 12/2018 và giảm 13,5% so với tháng 1/2018, đạt mức trung bình 473,3 USD/tấn.
Thị trường lớn thứ hai của dầu thô Việt Nam là Trung Quốc. Đây là thị trường chiếm 33% tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu dầu thô, đạt 160.390 tấn, tương đương 74,03 triệu USD.
Nếu so với tháng 12/2018 thì lượng dầu thô xuất khẩu sang thị trường này đã tăng đến 287% và kim ngạch tăng 306,4%. Còn nếu so sánh với tháng 1/2018 thì cũng tăng mạnh 47,8% về lượng và tăng 28,1% về kim ngạch.
Trong khi đó, Nhật Bản và Malaysia là hai thị trường lớn thứ ba và thứ tư của dầu thô Việt Nam. Xuất khẩu dầu thô sang Nhật Bản đạt 46.052 tấn, tương đương 20,98 triệu USD trong tháng 1/2018. Còn xuất sang Malaysia đạt 41.447 tấn, tương đương 19,18 triệu USD, giảm 10% về lượng và giảm 19,6% về kim ngạch so với cùng tháng năm 2018.
Ngoài Malaysia, xuất khẩu dầu thô sang thị trường Australia tháng đầu năm nay cũng giảm mạnh 64,9% về lượng và giảm 70,5% về kim ngạch so với tháng 1/2018, đạt 39.473 tấn, tương đương 17,25 triệu USD.
Sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng những lợi thế địa kinh tế vượt trội, Việt Nam đang nắm giữ chìa khóa vàng để bứt phá thành một cường quốc kinh tế biển. Tuy nhiên, hành trình vươn khơi của các ngành kinh tế hiện đang vấp phải những rào cản lớn về thể chế quản lý không gian biển...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...