Thông tin tại Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn”, bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital cho biết, trong hơn một thập kỷ qua, thị trường tài chính Việt Nam đã đạt những bước tiến quan trọng.
Từ giai đoạn năm 2009-2010 khi chỉ số VN-Index dao động quanh vùng 200-300 điểm, thanh khoản thị trường chỉ vài trăm tỷ đồng mỗi phiên, đến nay quy mô thị trường đã thay đổi mạnh mẽ với VN-Index quanh vùng 1.800 điểm và thanh khoản nhiều phiên đạt hàng tỷ USD.
Tuy nhiên, chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên tăng trưởng mới và cần những dòng vốn lớn chưa từng có. Câu hỏi quan trọng là dòng vốn này sẽ đến từ đâu?
Theo đại diện Dragon Capital, mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao trong nhiều năm, kéo theo nhu cầu đầu tư rất lớn.
Với tỷ lệ đầu tư/GDP khoảng 40%, tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 ước tính lên tới gần 1.500 tỷ USD. Đây là con số tương đương khoảng 2,5 lần GDP năm 2025 và gấp khoảng 4 lần quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán hiện nay. “Đây là một con số lớn chưa từng có đối với cả nền kinh tế và thị trường tài chính Việt Nam”, bà Minh nhận định.
Theo tính toán, kênh tín dụng ngân hàng chỉ có thể đáp ứng khoảng 25-30% nhu cầu vốn trong 5 năm tới. FDI và các dòng vốn đầu tư quốc tế có thể đóng góp thêm khoảng 15-20%.
Như vậy, phần vốn còn thiếu, khoảng 120-150 tỷ USD mỗi năm, cần được bổ sung thông qua các kênh thị trường vốn, bao gồm cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp.
Một trong những nút thắt lớn nhất của nền kinh tế hiện nay là mức độ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Theo bà Minh, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức khoảng 146%. Con số này chưa phải cao nhất khu vực, thấp hơn Malaysia hay Thái Lan, nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn GDP đang khiến dư địa tiếp tục mở rộng ngày càng thu hẹp.
Nếu tín dụng ngân hàng tiếp tục tăng trưởng 15-16% mỗi năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP thực khoảng 3-5%, chỉ trong vòng 5 năm tới, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam có thể vượt qua Thái Lan và Singapore, trở thành một trong những mức cao nhất châu Á. Đây chính là lý do Việt Nam cần đẩy nhanh quá trình phát triển thị trường vốn.
“Chúng ta chỉ có thể còn 3 đến 5 năm nữa để tiếp tục phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng mà thôi”, bà Minh nhấn mạnh.
Cũng theo bà Minh, việc phụ thuộc quá lớn vào vốn ngân hàng còn tạo áp lực lên chi phí vốn của doanh nghiệp. Lãi suất từ đầu năm đã tăng khoảng 2-2,5% đối với chi phí vốn của doanh nghiệp, thậm chí cao hơn đối với một số nhóm doanh nghiệp.
Trong tương lai, khi ngành ngân hàng tiến gần hơn tới các chuẩn mực quốc tế, áp lực về vốn sẽ tiếp tục gia tăng. Việc giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo lộ trình sẽ khiến ngân hàng phải huy động nhiều nguồn vốn dài hạn hơn, đồng nghĩa chi phí vốn có thể tăng lên.
“Không thể xây dựng một nền kinh tế 40 năm bằng nguồn vốn kỳ hạn 12 tháng”, bà Minh nhấn mạnh.
Theo Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital, tại các nền kinh tế phát triển, ngân hàng vẫn giữ vai trò quan trọng nhưng chủ yếu cung cấp vốn ngắn hạn, vốn lưu động cho doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc tín dụng tiêu dùng.
Trong khi đó, các nhu cầu vốn dài hạn như phát triển hạ tầng, mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ được đáp ứng nhiều hơn thông qua thị trường cổ phiếu và trái phiếu.
Hiện nay, khoảng 75-80% nhu cầu vốn của doanh nghiệp Việt Nam vẫn đến từ hệ thống ngân hàng, trong khi thị trường vốn chỉ đóng góp khoảng 25-30%.
Ngược lại, tại các nền kinh tế phát triển, tỷ trọng tín dụng ngân hàng thường chỉ khoảng 40-50%, phần còn lại đến từ các kênh vốn dài hạn.
Bà Minh cho rằng cổ phiếu là nguồn vốn chủ sở hữu dài hạn nhất, giúp doanh nghiệp có thể đầu tư mà không chịu áp lực trả nợ định kỳ. Trong khi đó, trái phiếu giúp doanh nghiệp huy động vốn với kỳ hạn phù hợp với vòng đời dự án.
Theo mục tiêu phát triển thị trường tài chính, quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam cần hướng tới mức 120% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp cần đạt khoảng 40% GDP. Hiện nay, hai con số này mới lần lượt khoảng 60-70% và 15%.
“Nếu chúng ta muốn xây dựng một nền kinh tế phát triển trong 20-30 năm tới, chúng ta cần những nguồn vốn có thời hạn tương ứng”, bà Minh nhấn mạnh.
Trong đó, dòng vốn ngoại dù liên tục được kỳ vọng song dòng vốn từ nhóm này vẫn có xu hướng rút ròng trong những năm gần đây.
Một trong những nguyên nhân là cơ cấu hàng hóa trên thị trường chưa đáp ứng đầy đủ khẩu vị của nhà đầu tư quốc tế. Nhóm tài chính - ngân hàng và bất động sản hiện chiếm khoảng 68% vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam, trong khi nhóm sản xuất chỉ chiếm khoảng 15%, còn dịch vụ giảm xuống khoảng 11%.
“Nhà đầu tư quốc tế rất thích câu chuyện vĩ mô của Việt Nam, nhưng họ cần những doanh nghiệp để đầu tư. Chúng ta cần nhiều hơn những doanh nghiệp công nghệ cao, sản xuất quy mô lớn và các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao”, bà Minh nói.
Bên cạnh vốn ngoại, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn các nhà đầu tư tổ chức trong nước. Hiện tổng tài sản các quỹ quản lý trong nước khoảng 32 tỷ USD, tương đương 6% GDP, nhưng phần lớn vẫn tập trung vào trái phiếu. Riêng các quỹ mở cổ phiếu chỉ chiếm chưa đến 1% vốn hóa thị trường.
Trong khi đó, tài sản các quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam mới đạt khoảng 81 triệu USD, thấp hơn rất nhiều so với Indonesia hay Ấn Độ. “Đây là những dòng vốn cần được kích hoạt ngay hôm nay, bởi chúng ta không còn nhiều thời gian để chờ đợi”, bà Minh nhấn mạnh.




Tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong quý 2 vừa qua đạt mức thấp nhất kể từ năm 2022, do tình trạng suy giảm đầu tư ngày càng nghiêm trọng và nhu cầu tiêu dùng tiếp tục ảm đạm...
Dòng tiền cực nhỏ sáng nay tiếp tục “mở đường” cho nhịp điều chỉnh kiểm tra áp lực bán. HoSE khớp cả phiên chỉ đạt 4.752 tỷ đồng, giảm mạnh 20% so với sáng hôm qua và tương đương ngưỡng thấp kỷ lục hồi đầu tháng 6 vừa qua.
Lũy kế 6 tháng năm 2026, các ETF cổ phiếu Việt Nam ghi nhận rút ròng gần 5 nghìn tỷ đồng, giảm 37,3% so với cùng kỳ, cho thấy áp lực rút vốn của khối ETF đang dần hạ nhiệt mặc dù nhà đầu tư nước ngoài vẫn duy trì bán ròng trên thị trường.
Nhóm tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài ghi nhận mức giảm giá trị giao dịch mạnh nhất, lần lượt 46,2% và 29,4% so với tháng trước, cho thấy các nhà đầu tư lớn vẫn duy trì tâm lý thận trọng và chưa sẵn sàng gia tăng tỷ trọng trong bối cảnh thiếu các động lực hỗ trợ rõ ràng.
Riêng giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần huy động khoảng 5,4 triệu tỷ đồng thông qua thị trường chứng khoán. Đây là con số rất lớn, gấp hơn hai lần tổng lượng vốn huy động qua thị trường chứng khoán trong cả giai đoạn 2020-2025.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...