Ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng giám đốc Công ty Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO, lạc quan nhận định, tổng kim ngạch xuất khẩu riêng năm 2025 dự kiến đạt 450 - 500 tỷ USD, tương đương hoặc vượt GDP năm 2024. Đây là chỉ số rất đặc biệt mà rất ít quốc gia trên thế giới đạt được.
Hiện nhiều nhóm hàng vẫn còn dư địa tăng trưởng mạnh như cà phê (chuẩn bị cán mốc 10 tỷ USD), dệt may, đồ gỗ, đến hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng. Vì vậy, theo ông Việt, 2025 sẽ là năm bản lề, đưa Việt Nam tiến gần mốc thương mại 1.000 tỷ USD.
Việc tiệm cận và tiến vào “Câu lạc bộ 1.000 tỷ USD” là một cột mốc có ý nghĩa lịch sử, đây không chỉ là bước tiến về số lượng, mà là bước tiến về vị thế quốc gia.
Trước đây, Top 15 là sân chơi gần như cố định của những cường quốc thương mại như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Singapore. Việc Việt Nam bước vào nhóm này khẳng định rằng chúng ta không còn là nền kinh tế “đang nổi lên”, mà đã trở thành một cường quốc xuất nhập khẩu đúng nghĩa.
Cũng theo Tổng giám đốc Công ty Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO, sự hội nhập sâu rộng thông qua mạng lưới FTA thuộc hàng lớn nhất thế giới cũng giúp doanh nghiệp Việt có nhiều cơ hội để phát triển mạnh hơn.
Chính phủ tạo điều kiện rất tốt về hành lang pháp lý, ổn định chính trị, ngoại giao kinh tế. Từ đó, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam đều tăng trưởng mạnh.
Doanh nghiệp Việt hiện không còn chỉ làm OEM hay gia công. Nhiều sản phẩm nông sản, thực phẩm chế biến, đồ gỗ, hàng tiêu dùng, thậm chí vật liệu xây dựng… đã đạt chất lượng xuất khẩu cao và có thương hiệu riêng. Đây là sự thay đổi rất quan trọng để Việt Nam không chỉ gia tăng lượng, mà còn gia tăng chất trong xuất khẩu.
Mặc dù kim ngạch thương mại năm 20205 có những kết quả rất khả quan, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu đang dần lấy lại phong độ nhưng vấn đề về nguồn nhân lực đang thực sự trở thành rào cản lớn.
Ông Nguyễn Công Cường, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ lực Hà Nội (HAMI), cho biết thành phố hiện có hơn 100 doanh nghiệp có sản phẩm công nghiệp chủ lực, tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GRDP và khẳng định vị thế công nghiệp của Thủ đô.
Sản phẩm công nghiệp chủ lực Hà Nội là những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, sản xuất trên dây chuyền thiết bị có trình độ công nghệ ngang tầm khu vực.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đang đứng trước những thách thức không nhỏ như yêu cầu đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, tự động hóa, hội nhập quốc tế... Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp còn thiếu kỹ năng thực hành, chưa thông thạo ngoại ngữ, chưa quen với dây chuyền sản xuất hiện đại, doanh nghiệp phải đào tạo lại trước khi sử dụng. Đây chính là khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế cần các bên cùng tháo gỡ.
Theo Hiệp hội HAMI, cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp chủ lực của Hà Nội mong muốn có được nguồn nhân lực chuyên sâu, sẵn sàng tham gia ngay vào dây chuyền sản xuất, làm chủ công nghệ mới và thích ứng nhanh với những thay đổi của thị trường lao động trong thời đại số.
Trả lời báo chí trong cuộc tọa đàm mới đây, bà Nguyễn Võ Minh Thư, Phó Trưởng ban quản lý các khu chế xuất – khu công nghiệp (KCX – KCN) TPHCM, nhận định khoảng cách giữa kỳ vọng của người lao động và nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp đang trở thành nguyên nhân lớn dẫn đến nghịch lý “cung – cầu” trên thị trường.
Trong khi dư địa nguồn nhân lực trên thị trường rất lớn, nhưng doanh nghiệp lại tuyển mãi không đủ người.
Theo ông Dương Việt Linh, Giám đốc kinh doanh Việc Làm Tốt, khảo sát của đơn vị cho thấy, có tới 69% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho hay đang gặp phải vấn đề thiếu hụt lao động, trong đó 18% thiếu hụt trầm trọng. 31% nhân sự chuyển sang hình thức bán thời gian, làm việc từ xa, lao động tự do.
Lý do chuyển đổi là người lao động muốn đa dạng nguồn thu nhập để đảm bảo kinh tế; có thời gian gắn bó gia đình. Điều này tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) khuyến cáo khách hàng cần tuyệt đối cảnh giác, không truy cập liên kết lạ, không cung cấp mã OTP và chỉ giao dịch qua các kênh chính thống của ngành điện…
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang gấp rút hoàn tất các khâu chuẩn bị cuối cùng để đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông lâm thủy sản vào vận hành từ ngày 1/7/2026. Đến nay, hạ tầng kỹ thuật, kết nối dữ liệu và các mô hình thí điểm đã đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng nâng cao tính minh bạch, hiệu quả quản lý và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế...
Từ thực tiễn vận hành Feed - Farm - Food, C.P. Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi heo bền vững tại IPVS 2026.
Ngành phân bón đang nỗ lực tự chủ nguồn cung khi sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 80% nhu cầu. Dù phân bón hữu cơ phát triển mạnh và dư thừa NPK, ngành vẫn phải giải bài toán phụ thuộc nhập khẩu kali, SA nhằm đảm bảo sản xuất bền vững trước những biến động địa chính trị và thị trường toàn cầu.
Điểm nghẽn lớn nhất để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm trong 20 năm tới, theo GS. TS Nguyễn Thiện Nhân, chính là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Điểm nghẽn lớn nhất để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm trong 20 năm tới, theo GS. TS Nguyễn Thiện Nhân, chính là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.