
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Sáu, 16/01/2026
Chu Khôi
13/08/2024, 16:30
Trong nửa đầu năm 2024, xuất khẩu viên nén đạt trên 345 triệu USD, chiếm 4,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ. Để phát triển bền vững ngành sản xuất viên nén, Việt Nam cần mở rộng thị trường tiêu thụ, hướng đến thị trường châu Âu, nơi còn nhiều dư địa cho ngành hàng này…
Chia sẻ tại toạ đàm "Thực trạng và giải pháp cho một số vấn đề thời sự của ngành gỗ Việt" do Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam tổ chức mới đây, TS Tô Xuân Phúc, Chuyên gia của Tổ chức Forest Trends, cho biết tổng lượng viên nén Việt Nam xuất khẩu trong 6 tháng năm 2024 đạt 2,6 triệu tấn, với giá trị 345,5 triệu USD, tăng 25,9% về lượng và 4,6% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Hai thị trường xuất khẩu viên nén lớn nhất của Việt Nam là Hàn Quốc và Nhật Bản. Trong 6 tháng năm 2024, lượng và giá trị xuất khẩu viên nén sang hai quốc gia này chiếm 92% về lượng và 89,9% về giá trị xuất khẩu viên nén của Việt Nam.
Ngoài ra, EU là thị trường xuất khẩu viên nén đứng thứ ba của Việt Nam, với lượng đạt 48,6 nghìn tấn, ứng với 9,5 triệu USD, chiếm 1,9% về lượng và 2,8% về giá trị viên nén Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường. Còn lại sản phẩm này được xuất khẩu sang một số thị trường khác như Đài Loan (Trung Quốc), PNP…
Giá viên nén xuất khẩu trung bình hàng tháng trong 6 tháng năm 2024 sụt giảm mạnh ở cả hai thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản.
Cụ thể, tại Nhật Bản, nếu như 6 tháng năm 2023 giá xuất khẩu viên nén đạt trung bình 170 USD/tấn, có những tháng ở mức 185 USD/tấn, thì trong 6 tháng năm 2024 giá trung bình xuất mặt hàng này chỉ còn 146 USD/tấn, giảm 24 USD/tấn.
Tương tự, tại thị trường Hàn Quốc, giá xuất khẩu trung bình của 6 tháng năm 2023 là 139 USD/tấn, trong khi 6 tháng đầu năm 2024 chỉ còn 104 USD/tấn, giảm 35 USD/tấn.
"Để giảm phụ thuộc vào 2 thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản, các doanh nghiệp sản xuất viên nén cần tìm hiểu, thúc đẩy tiêu thụ tại các thị trường mới như thị trường châu Âu (EU) và thị trường nội địa".
TS Tô Xuân Phúc, Chuyên gia của Tổ chức Forest Trends.
Theo TS Tô Xuân Phúc, trong thời gian tới, thị trường Nhật Bản tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất viên nén của Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam còn có cơ hội thay thế nguồn cung viên nén của Indonesia cho thị trường Nhật Bản, bởi nguồn cung viên nén làm từ vỏ dầu cọ có nguồn gốc từ Indonesia có thể sẽ không đạt được chứng chỉ bền vững theo yêu cầu của thị trường Nhật Bản.
“Hiện nhu cầu viên nén và dăm gỗ tiêu thụ nội địa có khả năng gia tăng trong tương lai do cam kết giảm phát thải của Chính phủ Việt Nam, cũng như do các doanh nghiệp tự giác chuyển đổi từ nguồn nguyên liệu phát thải cao sang viên nén, đặc biệt nếu Chính phủ ban hành các chính sách khuyến khích việc chuyển đổi”, TS Tô Xuân Phúc nhận định.
Ông Olaf Naehrig, kỹ sư trưởng Tập đoàn KAHL tại Việt Nam, cho rằng thị trường EU hiện đang chiếm tỷ trọng nhỏ trong số các thị trường nhập khẩu viên nén của Việt Nam, chỉ chiếm 3,3% trong tổng lượng viên nén xuất khẩu và chiếm 3,8% trong tổng kim ngạch. Trong năm 2023, thị trường EU nhập khẩu hơn 155.000 tấn viên nén của Việt Nam, đạt xấp xỉ 26 triệu USD, tăng gần gấp 3 lần về lượng và 3,7 lần về giá trị so với năm 2022, đây là tín hiệu vui của viên nén Việt Nam đối với thị trường EU.
Ông Olaf Naehrig cũng đồng tình với quan điểm cho rằng ngành viên nén Việt Nam cần thúc đẩy mở cửa thị trường tại châu Âu. Bởi vì đây mới là khu vực tiêu thụ nhiều viên nén nhất trên thế giới.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện Việt Nam đang có 83 doanh nghiệp trực tiếp tham gia xuất khẩu viên nén và trên 300 cơ sở sản xuất viên nén. So với nhu cầu xuất khẩu, Việt Nam có lực lượng doanh nghiệp sản xuất viên nén khá yếu, quy mô xuất khẩu chỉ tập trung ở một số công ty lớn.
Tuy nhiên, ngành sản xuất viên nén tại Việt Nam đang bị ngành xuất khẩu dăm gỗ cạnh tranh dữ dội về nguyên liệu. Do đó, nghiên cứu công nghệ để mở rộng nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành sản xuất viên nén là vấn đề cần thiết.
Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Sơn Hà, đại diện Tập đoàn KAHL tại Việt Nam, cho rằng nguyên liệu chế biến viên nén tại Việt Nam chưa được bền vững về nguồn gốc và chất lượng.
"Nguyên liệu sản xuất viên nén không chỉ có cây keo, mà cỏ voi, thân cây ngô hoặc bã mía cũng có thể sử dụng, tất cả những phụ phẩm nông nghiệp có thể đốt cháy đều là nguyên liệu sản xuất viên nén".
Ông Nguyễn Thanh Phong, Chi hội trưởng Chi hội viên nén gỗ Việt Nam.
Theo ông Hà, lợi thế của ngành sản xuất viên nén Việt Nam là có nhiều doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, phế phụ phẩm từ chế biến đồ gỗ nếu bỏ đi thì rất phí, đó là nguyên liệu tốt nhất để sản xuất viên nén. Tận dụng mạt cưa, gỗ vụn để sản xuất viên nén còn giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, các doanh nghiệp không phải đốt tiêu hủy. Viên nén sản xuất tại Việt Nam được thị trường Nhật Bản ưa chuộng là bởi khi đốt lên không có khói, đồng nghĩa không phát thải CO2.
Tuy nhiên, nguyên liệu sản xuất viên nén ngày càng hiếm, đồng thời phải cạnh tranh gay gắt nguồn gỗ rừng trồng với ngành chế biến gỗ và dăm gỗ. Để phát triển bền vững, không gì khác hơn là ngành chế biến viên nén Việt Nam cần thay đổi công nghệ và tìm nguồn nguyên liệu thay thế.
“KAHL là đơn vị đầu tiên của thế giới sản xuất viên nén với nguyên liệu bã mía. Công nghệ của KAHL là sử dụng khuôn nằm, chạy 6 ru lô đè bã mía xuống, hiện KAHL là đơn vị duy nhất sản xuất được 10 - 12 tấn viên nén/giờ. Công nghệ càng hiện đại thì giá thành sản phẩm càng thấp, chất lượng sản phẩm càng cao mới có thể cạnh tranh trên thị trường”, ông Nguyễn Sơn Hà chia sẻ.
Ông Nguyễn Thanh Phong, Chi hội trưởng Chi hội viên nén gỗ Việt Nam cho rằng: "Để sản xuất viên nén bằng nguyên liệu từ phế phụ phẩm nông nghiệp, công nghệ sản xuất không phải thay đổi nhiều, nhưng các doanh nghiệp cần tìm nhóm khách hàng phù hợp”.
Những tuần giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ, thị trường tiêu dùng tại đồng bằng sông Cửu Long bước vào giai đoạn cao điểm quen thuộc. Thế nhưng, cách người dân tiếp cận hàng hóa đang thay đổi rõ rệt. Bên cạnh hình ảnh chợ tết đông đúc, siêu thị sáng đèn từ sớm, mua sắm trực tuyến ngày càng hiện diện rõ trong giỏ chi tiêu cuối năm của nhiều gia đình...
Chỉ số CPI được công bố vào ngày mùng 3 hàng tháng có thể mở ra dư địa quan trọng cho điều hành chính sách vĩ mô. Khi thông tin giá cả được cập nhật kịp thời, khả năng phản ứng của chính sách tiền tệ và tài khóa trước áp lực lạm phát sẽ linh hoạt hơn...
Kiểm kê, định lượng phát thải ngày càng trở thành hạ tầng dữ liệu phục vụ mục tiêu: tuân thủ, quản trị rủi ro, đáp ứng khách hàng chuỗi cung ứng, công bố ESG và thậm chí tạo dòng tiền từ tín chỉ carbon. Song điều này lại đang tạo ra một "ma trận" thách thức doanh nghiệp...
Năm 2025 khép lại với một dấu mốc đặc biệt đối với ngành thủy sản Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu lần đầu tiên đạt 11,3 tỷ USD, bất chấp bối cảnh thương mại toàn cầu đầy biến động và các rào cản ngày càng khắt khe từ những thị trường lớn. Thành tựu này không chỉ phản ánh năng lực thích ứng mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, mà còn cho thấy ngành thủy sản đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu rộng để hướng tới phát triển bền vững...
Năm 2025 được xem là dấu mốc đặc biệt của ngành hồ tiêu và gia vị Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu lần đầu tiên vượt mốc 2 tỷ USD, khẳng định vị thế trung tâm của Việt Nam trên bản đồ gia vị toàn cầu. Trong bối cảnh sản lượng không tăng mạnh, thậm chí có dấu hiệu chững lại, ngành hồ tiêu vẫn ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng nhờ giá xuất khẩu cao và sự chuyển dịch mạnh mẽ từ “tăng lượng” sang “tăng giá trị”...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: