
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì các động lực truyền thống như xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng, mà còn phải hình thành những động lực tăng trưởng mới đủ mạnh để dẫn dắt nền kinh tế. Đây cũng là lý do vai trò của Petrovietnam ngày càng được nhìn nhận dưới góc độ kinh tế vĩ mô thay vì chỉ giới hạn trong lĩnh vực dầu khí hay năng lượng.
Sau 50 năm phát triển, bài toán đặt ra với Petrovietnam không còn chỉ là tăng sản lượng hay mở rộng quy mô hoạt động. Trong giai đoạn nền kinh tế hướng tới tăng trưởng hai con số, tập đoàn được kỳ vọng trở thành một trong những lực lượng góp phần kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước, thông qua vai trò bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy đầu tư, phát triển công nghiệp nền tảng và tham gia dẫn dắt quá trình chuyển dịch năng lượng.
Petrovietnam đang nắm giữ vị trí đặc biệt khi là doanh nghiệp hiện diện trên hầu hết các mắt xích quan trọng của chuỗi giá trị năng lượng, từ thăm dò khai thác dầu khí, công nghiệp khí, lọc hóa dầu, điện năng, dịch vụ kỹ thuật dầu khí đến các lĩnh vực năng lượng mới.
Sự phát triển của Petrovietnam vì thế không chỉ mang ý nghĩa gia tăng doanh thu hay lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn góp phần bảo đảm nền tảng năng lượng cho tăng trưởng kinh tế.
Đặc biệt, khi các nguồn thủy điện lớn đã gần khai thác hết tiềm năng, trong khi nhiều nhà máy nhiệt điện than đối mặt với áp lực về môi trường và nguồn nhiên liệu, khí tự nhiên cùng các dạng năng lượng mới đang nổi lên như giải pháp quan trọng cho giai đoạn chuyển tiếp. Đây cũng là lĩnh vực mà Petrovietnam đang sở hữu lợi thế vượt trội về kinh nghiệm, hạ tầng và năng lực triển khai.
Một trong những điểm khác biệt của Petrovietnam nằm ở khả năng tạo ra tác động lan tỏa vượt xa phạm vi hoạt động của chính doanh nghiệp.
Không giống nhiều lĩnh vực khác, các dự án dầu khí và năng lượng thường có quy mô đầu tư lớn, thời gian triển khai dài và liên quan tới nhiều ngành nghề. Mỗi dự án được triển khai không chỉ tạo thêm nguồn cung năng lượng mà còn kéo theo nhu cầu về xây lắp, cơ khí, vận tải, tài chính và dịch vụ kỹ thuật.
Vì vậy, các dự án trọng điểm như chuỗi khí - điện Lô B - Ô Môn hay các công trình hạ tầng LNG không đơn thuần là những dự án năng lượng. Đây còn là những dự án có khả năng kích hoạt các chuỗi đầu tư mới, tạo việc làm và mở rộng năng lực sản xuất của nhiều ngành công nghiệp trong nước.
Từ góc độ kinh tế vĩ mô, đây chính là những hiệu ứng lan tỏa mà nền kinh tế cần trong giai đoạn tăng trưởng cao. Khi một dự án năng lượng lớn được triển khai, lợi ích tạo ra không chỉ nằm ở sản lượng điện hay nhiên liệu được bổ sung mà còn ở việc hình thành các chuỗi giá trị mới, thu hút thêm nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Nói cách khác, mỗi dự án trọng điểm của Petrovietnam đều có thể được nhìn nhận như một mắt xích quan trọng trong chu kỳ đầu tư mới của Việt Nam.
Những năm gần đây, Petrovietnam đã từng bước mở rộng sang LNG, điện khí, hydrogen và năng lượng tái tạo. Đây không chỉ là quá trình đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình doanh nghiệp dầu khí truyền thống sang mô hình tập đoàn công nghiệp - năng lượng tích hợp.
Đặc biệt, Kết luận số 76-KL/TW ngày 24/4/2024 của Bộ Chính trị về tình hình thực hiện Nghị quyết số 41; Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; cùng với việc đổi tên thành Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam đã mở ra không gian phát triển mới cho tập đoàn.
Theo đó, Petrovietnam có điều kiện tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, thu hồi và lưu trữ carbon (CCS/CCUS) cũng như phát triển các chuỗi giá trị năng lượng biển.
Đây không chỉ là những lĩnh vực kinh doanh mới. Xa hơn, đây có thể trở thành những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế trong tương lai, góp phần hình thành các ngành công nghiệp mới, nâng cao năng lực công nghệ và tạo ra dư địa phát triển dài hạn cho đất nước.
Theo TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, trong giai đoạn 2026-2030, Petrovietnam cần được nhìn nhận là “lực lượng đồng hành kiến quốc”, chủ động tham gia xây dựng và hoàn thiện chính sách, thể chế phát triển.
Quan điểm này phản ánh sự thay đổi trong kỳ vọng đối với Petrovietnam. Từ chỗ là doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, tập đoàn ngày càng được kỳ vọng đóng vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực năng lượng, công nghiệp nền tảng và đổi mới công nghệ.
Cùng chia sẻ quan điểm này, TS Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển, cho rằng với doanh thu chiếm khoảng 9-10% GDP, tăng trưởng của Petrovietnam có ý nghĩa quyết định đối với mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế. Theo ông Nghĩa, nhân lực và nhân tài chính là nguồn lực quý giá nhất để tập đoàn làm chủ công nghệ và tạo ra những bước phát triển đột phá trong tương lai.
Tuy nhiên, để Petrovietnam phát huy đầy đủ vai trò của mình, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng trao quyền chủ động hơn trong đầu tư, quản trị và triển khai các dự án chiến lược. Đặc thù của ngành dầu khí là chu kỳ đầu tư dài, rủi ro cao và đòi hỏi quyết định nhanh. Nếu các điểm nghẽn về thủ tục, cơ chế tài chính và đầu tư không được tháo gỡ kịp thời, nhiều cơ hội phát triển có thể bị bỏ lỡ.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam đòi hỏi sự cộng hưởng của nhiều động lực tăng trưởng mới và truyền thống. Trong bức tranh đó, Petrovietnam không chỉ là một doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn mà còn là trụ cột của an ninh năng lượng quốc gia, đầu tàu công nghiệp và lực lượng quan trọng trong tiến trình chuyển đổi xanh.
Với khả năng dẫn dắt đầu tư, thúc đẩy các ngành công nghiệp nền tảng, tham gia các lĩnh vực năng lượng mới và tạo hiệu ứng lan tỏa tới nhiều ngành kinh tế, Petrovietnam đang đứng trước cơ hội trở thành một cực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế.
Khai thác hiệu quả tiềm năng của Petrovietnam cũng đồng nghĩa với việc tạo thêm một động lực mạnh mẽ để Việt Nam nâng cao sức chống chịu trước biến động bên ngoài, mở rộng dư địa phát triển và hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong dài hạn.
FDI không phải là mục tiêu của chính sách phát triển, mà là một trong nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi các nguồn lực quốc gia ngày càng hữu hạn, mọi chính sách ưu đãi, mọi quyết định phân bổ đất đai, hạ tầng, năng lượng hay dữ liệu đều cần hướng đến giá trị dài hạn mà nền kinh tế nhận được...
Sau gần 40 năm mở cửa, FDI vẫn là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khi quy mô nền kinh tế đã thay đổi và các nguồn lực phát triển ngày càng tiệm cận giới hạn, câu hỏi đặt ra lúc này là đã đến lúc nhìn nhận đúng vai trò của FDI trong chiến lược phát triển quốc gia...
Tháng 6/2026, TKV khai thác 3,3 triệu tấn than nguyên khai, nâng sản lượng 6 tháng lên 19,6 triệu tấn. Tuy nhiên, sang tháng 7, Tập đoàn chủ động giảm sản lượng khai thác và tiêu thụ do nhu cầu than cho điện thấp hơn khi bước vào mùa mưa...
Sự tham gia đông đảo của nhiều đoàn doanh nghiệp, nhà nhập khẩu, hiệp hội ngành hàng và các đơn vị logistics Hoa Kỳ, Brazil cùng các đối tác thương mại ở khu vực châu Mỹ tại VIS 2026 cho thấy sự quan tâm rất lớn đối với hàng hóa Việt Nam. Điều này tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn của Việt Nam như một trung tâm cung ứng quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66% vào tổng GDP của cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành nông nghiệp cũng đối mặt với nhiều thách thức cần giải quyết để duy trì đà phát triển bền vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, xung đột vũ trang tại Trung Đông kéo dài tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa, chi phí vận tải và thương mại quốc tế... GDP sáu tháng đầu năm 2026 của nước ta vẫn tăng tới 8,18%. Khu vực 2 là động lực chính cho GDP đạt con số trên.