Tính đến ngày 21/1/2026, đã có 212 ngân hàng và doanh nghiệp niêm yết công bố báo cáo tài chính hoặc ước tính sơ bộ kết quả kinh doanh quý IV và cả năm 2025, tương ứng với khoảng 25,2% tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường chứng khoán.
Trong quý IV/2025, lợi nhuận sau thuế của nhóm doanh nghiệp đã công bố tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này cho thấy dấu hiệu chững lại so với hai quý liền trước và được ghi nhận ở cả nhóm doanh nghiệp tài chính lẫn nhóm doanh nghiệp phi tài chính. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng kết quả trên chưa phản ánh đầy đủ bức tranh lợi nhuận chung của toàn thị trường, do số lượng doanh nghiệp đã công bố mới chiếm tỷ trọng còn khá thấp
Đối với nhóm ngân hàng, hiện đã có 10/27 ngân hàng thương mại công bố kết quả kinh doanh quý IV/2025, đại diện cho 75,6% vốn hóa toàn ngành ngân hàng. Nhóm này ghi nhận lợi nhuận sau thuế tăng 17,8% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với mức tăng của quý III/2025 (+27,7%) và quý II/2025 (+19,7%). Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc biên lãi ròng NIM tiếp tục duy trì ở vùng thấp, thậm chí chịu áp lực thu hẹp trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất và chi phí vốn gia tăng.
Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID) là điểm sáng khi lợi nhuận sau thuế tăng 24,5%. Ngược lại, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) tăng 10,8% và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam (CTG) tăng 13,2%, đều thấp hơn mức bình quân toàn ngành, phản ánh áp lực từ NIM và tốc độ tăng trưởng tín dụng còn hạn chế.
Ở chiều đối lập, nhóm ngân hàng tư nhân và ngân hàng quy mô vừa ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận vượt trội, nổi bật gồm Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam (TCB) tăng 104,1%, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPB) tăng 61,1%, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Lộc Phát Việt Nam (LPB) tăng 39,7% và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MBB) tăng 32,4%.
Kết quả này chủ yếu đến từ thu nhập ngoài lãi cải thiện, chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng giảm, cùng với nền lợi nhuận cùng kỳ ở mức thấp. Riêng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (STB) là trường hợp ngoại lệ khi LNST quý IV/2025 giảm mạnh 174,7% so với cùng kỳ, do chi phí trích lập dự phòng tăng đột biến.
Đối với nhóm doanh nghiệp phi tài chính, tăng trưởng lợi nhuận sau thuế ghi nhận tích cực tại một số ngành như Cảng biển với DVP, QNP; Vật liệu xây dựng gồm GMH, HT1, VLB; Dệt may với TNG, SGH, TCT, ATS; ngành Giấy với SVT; và ngành Phân bón gồm NFC và PMB.
Ngược lại, nhiều doanh nghiệp thuộc ngành Thép như Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TIS), Công ty Cổ phần Thép TNS (TNS), Công ty Cổ phần Thép TTS (TTS); ngành Dược phẩm với Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG), Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm (IMP); ngành Nước sạch gồm Công ty Cổ phần Nước Thủ Dầu Một (TDM), Công ty Cổ phần Cấp nước Long An (LAW), Công ty Cổ phần Nước Lâm Đồng (LDW); và ngành Cao su với Công ty Cổ phần Cao su Hòa Bình (HRC) ghi nhận suy giảm lợi nhuận trong quý IV/2025.




Ông Saylor cũng cho biết Strategy dự kiến sẽ đẩy mạnh việc mua vào bitcoin, đồng thời phát hành thêm các loại chứng khoán để huy động vốn cho hoạt động này...
Lượng trái phiếu kho bạc và trái phiếu cơ quan liên bang Mỹ do Canada nắm giữ đã tăng gấp hơn 4 lần trong 5 năm, khiến nhiều chuyên gia Phố Wall đặt nghi vấn rằng một phần đáng kể số tài sản này có thể thuộc về Trung Quốc...
Chỉ trong một quý, công ty tài sản này thu hút được lượng vốn ròng 205 tỷ USD...
Dòng tiền bắt đáy có tín hiệu hoạt động mạnh hơn, kéo nhiều cổ phiếu phục hồi tích cực đã giúp VN-Index “cầm cự” được quanh mốc 1700 điểm. Ngay cả khi không tính đến sức mạnh của trụ, giao dịch cũng khá mạnh khi cổ phiếu phân hóa, hơn là giảm cả loạt.
Dòng tiền vào các quỹ trái phiếu tiếp tục duy trì trạng thái rút ròng trong tháng 8/2026, đánh dấu tháng thứ 12 liên tiếp bị rút vốn. Tuy nhiên, quy mô rút ròng đã thu hẹp đáng kể, cho thấy áp lực rút vốn đang có dấu hiệu giảm dần.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.