Thảo luận tại toạ đàm "Hành lang vận tải thế hệ mới: Đòn bẩy phát triển logistics xuyên biên giới", ông Hoàng Hồng Giang, Phó Cục trưởng Cục Hàng hải và đường thủy (Bộ Xây dựng) cho biết chúng ta đi qua 4 chu kỳ quy hoạch cảng biển, Việt Nam sẽ sớm cạnh tranh với Singapore trong lĩnh vực này.
Tốc độ tăng trưởng hàng hóa thông qua cảng Việt Nam tăng rất nhanh, mục tiêu đến năm 2030 đạt 1,5 tỷ tấn mỗi năm. Do vậy, cần phải đầu tư để đáp ứng nhu cầu, đặc biệt là hạ tầng dùng chung.
Theo Phó Cục trưởng Cục Hàng hải và đường thủy, cảng biển tại miền Trung có 4 vai trò lớn trong phát triển kinh tế vùng. Đó là gắn kết trực tiếp với các khu kinh tế ven biển, tạo điều kiện thu hút dòng vốn đầu tư lớn, hình thành các trung tâm công nghiệp - dịch vụ mới.
Đây là điểm tập kết, trung chuyển nông sản, khoáng sản, hàng công nghiệp và thủy sản từ các tỉnh ven biển cũng như Tây Nguyên ra thị trường quốc tế. Đồng thời là "cầu nối” đưa khách du lịch quốc tế và nội địa đến những vùng động lực du lịch nổi tiếng như Quảng Trị, Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn, Huế… góp phần nâng tầm thương hiệu du lịch biển Việt Nam.
Bên cạnh đó, cảng biển miền Trung là điểm kết nối chiến lược giữa đất liền với biển, giữa tiểu vùng Mê Kông mở rộng và thị trường quốc tế, từ đó khơi thông dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và thu hút đầu tư phát triển dọc tuyến.
Tuy nhiên, một thực tế hiện hữu, nhiều cảng biển tại miền Trung hiện nay không hoạt động hết công suất, kết nối yếu, thiếu hạ tầng tương đương đi kèm, dẫn đến nguy cơ lãng phí, gây áp lực lên khả năng quy hoạch cho tương lai. Nguyên nhân ông Giang chỉ ra là do lượng hàng ở miền Trung chưa tăng nhanh.
Trong khi đó, cảng biển chỉ tăng trưởng khi có hàng hóa, khi có nền sản xuất, tiêu dùng ở hậu phương; có khu thương mại tự do, khu chế xuất, khu công nghiệp.
Để thu hút hàng hoá và khách du lịch qua cảng biển, ông Giang nhấn mạnh đến 5 giải pháp quan trọng.
Thứ nhất, giải pháp về cơ chế và liên kết vùng. Theo đó, cần thiết lập cơ chế điều phối vùng cho cảng biển miền Trung. Có chính sách giảm phí hạ tầng, ưu đãi logistics - du lịch tàu biển.
Liên kết gom hàng hóa thế mạnh của các địa phương trong vùng, như Thanh Hóa - Nghệ An có thép, xi măng, nóng sản; Quảng Trị có gỗ, đá, vật liệu xây dựng; Huế có xi măng, may mặc, du lịch di sản; Đà Nẵng có điện tử, cơ khí, ô tô; Quảng Ngãi: dầu khí, hóa dầu; Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng: thủy sản, nông sản (thanh long), du lịch biển; Tây Nguyên: cà phê, hồ tiêu, cao su, trái cây.
Thứ hai, những giải pháp phát triển hạ tầng cảng và kết nội. Miền Trung cần mở rộng, nâng cao năng lực cảng, như: 14 cảng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Khánh Hòa... Phát triển bến chuyên dụng tàu khách Huế, Đà Nẵng.
Kết nối đồng bộ cao tốc Bắc - Nam, hành lang Đông - Tây, cao tốc kết nối cảng biển và vùng Tây Nguyên, đường sắt kết nối cảng biển theo quy hoạch.
Thứ ba, giải pháp về logistics và dịch vụ hỗ trợ. Cần hình thành trung tâm logistics liên vùng tại Nghệ An, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Khánh Hòa, vừa phục vụ xuất nhập khẩu, vừa cung ứng dịch vụ tàu khách.
Đẩy mạnh dịch vụ giá trị gia tăng: kho lạnh, chế biến, đóng gói, kiểm định đối với hàng hóa; dịch vụ visa, vận chuyển, lưu trú, tour kết nối đối với hành khách.
Xây dựng mô hình cảng thông minh, cảng xanh, áp dụng công nghệ số (E-port, Smart Port) để giảm thủ tục, tiết kiệm thời gian cho cả hàng hóa và hành khách.
Thứ tư, giải pháp về thu hút nguồn hàng và phát triển thị trường hành khách. Tập trung khai thác hàng xuất khẩu chủ lực như nông sản (cà phê, hồ tiêu, cao su, gỗ) từ Tây Nguyên; khoáng sản, vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến từ các khu kinh tế ven biển.
Hình thành chuỗi dịch vụ logistics khép kín từ sản xuất – vận tải – cảng biển – thị trường quốc tế, giảm chi phí vận tải.
Phát triển sản phẩm du lịch tàu biển đặc thù, gắn cảng với các điểm đến động lực (Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang), tổ chức sự kiện quốc tế đón tàu khách lớn.
Thứ năm, giải pháp về hợp tác quốc tế và hội nhập chuỗi giá trị toàn cầu thông qua phát huy vai trò cửa ngõ hành lang kinh tế Đông – Tây, thu hút hàng hoá trung chuyển từ Lào, Đông Bắc Thái Lan, Myanmar qua cảng miền Trung.
Liên kết với các hãng tàu quốc tế, các tập đoàn du lịch biển để mở tuyến vận tải container trực tiếp và tuyến tàu khách thường xuyên.
Mặt khác, kêu gọi đầu tư tư nhân, đầu tư nước vào hạ tầng cảng biển, logistics, bến tàu khách, nâng tầm cảng biển miền Trung thành điểm đến quốc tế.
Chỉ dẫn địa lý không chỉ là “tấm vé thông hành” khẳng định uy tín sản phẩm, mà còn là công cụ nâng cao giá trị đặc sản địa phương. Tuy nhiên, để chuyển hóa lợi thế pháp lý này thành giá trị thương mại bền vững, các địa phương và doanh nghiệp cần vượt qua nhiều điểm nghẽn trong tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và xúc tiến thị trường...
Việc xây dựng Nghị quyết về FTZ và ILZ tại TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng tạo thêm động lực cho thương mại, logistics và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng cơ chế mới phải thực sự khác biệt, linh hoạt và có khả năng triển khai nhanh, nếu không FTZ khó tạo ra giá trị mới...
Xuất khẩu cà phê Việt Nam đang đứng trước bài toán nâng giá trị thay vì chỉ gia tăng sản lượng. Với lợi thế lớn về Robusta, việc kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu, phân hóa sản phẩm và đổi mới phương thức thu mua được xem là những yêu cầu then chốt để nâng giá trị hạt cà phê...
Thương mại điện tử đang giúp doanh nghiệp Việt tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng toàn cầu, trong khi AI, dữ liệu lớn và các nền tảng số có thể làm thay đổi cách xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, công nghệ không xóa bỏ những rào cản căn bản của xuất khẩu. Để hàng Việt đi xa, cần kết nối dữ liệu thị trường, tiêu chuẩn, logistics, nền tảng số và nhà mua hàng thành một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp...
Xuất khẩu phân bón Việt Nam bứt phá mạnh mẽ cả về lượng lẫn giá trị, trong khi nhập khẩu giảm sâu, khẳng định năng lực sản xuất nội địa được nâng cao. Tận dụng tốt nhu cầu quốc tế, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như urê, NPK, DAP để mở rộng thị trường và gia tăng kim ngạch...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Theo kết quả chấm điểm về giải ngân vốn đầu tư công tháng 8/2026 do Bộ Tài chính vừa công bố, Thanh Hóa nằm trong tốp các tỉnh, thành phố có tốc độ giải ngân đầu tư công rất tốt, xếp thứ 17 trong số 34 tỉnh, thành phố về giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; xếp thứ 12 về giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 được phép kéo dài sang năm 2026. Kết quả này tiếp tục cho thấy sự chuyển động tích cực trong tổ chức thực hiện, đồng thời tạo thêm động lực để tỉnh khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ các dự án, đưa nguồn vốn đầu tư thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.