Dự án được triển khai thông qua bốn hợp phần liên kết chặt chẽ. Hợp phần thứ nhất, tập trung hoàn thiện các hướng dẫn, tiêu chí và công cụ nhằm hài hòa phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên với bảo tồn đa dạng sinh học.
Hợp phần thứ hai thí điểm các mô hình quản lý, hợp tác và tài chính cho du lịch dựa vào thiên nhiên tại Vườn quốc gia Núi Chúa và Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng.
Hợp phần thứ ba nhằm nâng cao năng lực, thay đổi hành vi của các bên tham gia chuỗi giá trị du lịch để bảo vệ các loài hoang dã và đa dạng sinh học.
Hợp phần thứ tư tập trung quản lý tri thức, giám sát, đánh giá, tổng hợp, chia sẻ và nhân rộng kết quả.
Dự án WTP kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý khoảng 145.414 ha, đóng góp khoảng 15,7 triệu tấn CO₂ tương đương vào mục tiêu giảm phát thải, đồng thời tạo mới, phục hồi hoặc ổn định 1.800 việc làm xanh - trong đó 70% dành cho phụ nữ - và mang lại lợi ích trực tiếp cho khoảng 3.000 người.
Được triển khai trong giai đoạn 2026 - 2030, dự án hướng tới một cách tiếp cận mà phát triển du lịch không đánh đổi bằng suy giảm thiên nhiên. Thay vào đó, giá trị kinh tế do thiên nhiên và du lịch tạo ra có thể trở thành nguồn lực để bảo vệ hệ sinh thái, loài hoang dã và tạo thêm sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương.
Phát biểu tại lễ khởi động, ông Bùi Chính Nghĩa, Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học, cho biết Việt Nam là một trong 16 quốc gia được đánh giá có mức độ đa dạng sinh học cao, với sự hiện diện của hơn 62.600 loài động vật, thực vật, trong đó có nhiều loài đặc hữu, quý hiếm, có giá trị vô cùng to lớn trong việc đi hình thành các hệ sinh thái, môi trường sống đặc trưng.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, thực trạng đa dạng sinh học của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều tác động, ảnh hưởng tiêu cực do sức ép của gia tăng dân số, phát triển kinh tế đã đẩy nhiều hệ sinh thái đến ngưỡng tới hạn, khiến gần 1.400 loài bị đe dọa sinh tồn theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2024.
Theo ông Bùi Chính Nghĩa, dự án WTP được thiết kế và triển khai mang một ý nghĩa vô cùng thiết thực. Trong đó, du lịch sinh thái và du lịch dựa vào thiên nhiên được xác định là một cách tiếp cận đột phá, phù hợp nhằm dung hòa bài toán bảo tồn và phát triển.
Đây là phương thức nhằm phát huy tối đa giá trị tài nguyên, tạo cơ hội phát triển sinh kế mới, từ đó hỗ trợ nguồn lực tài chính tái đầu tư cho hoạt động bảo tồn hệ sinh thái và phát triển cộng đồng.
Tại hai khu thí điểm (Vườn quốc gia Núi Chúa và Phong Nha - Kẻ Bàng), dự án sẽ triển khai mô hình quản lý, hợp tác, tài chính và hỗ trợ để phát triển các mô hình du lịch dựa vào thiên nhiên và bảo tồn các loài hoang dã, quý hiếm.
Với tư cách là cơ quan đầu mối quốc gia và là chủ dự án, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học khẳng định cam kết mạnh mẽ trong quá trình tổ chức triển khai dự án, nhằm đảm bảo dự án vận hành đúng tiến độ và đạt được trọn vẹn các mục tiêu của dự án.
Về phía UNDP, bà Francesca Nardini, Phó Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam nhấn mạnh rằng du lịch thuận thiên được kỳ vọng tạo ra sự gắn kết thực tế giữa bảo tồn và phát triển, giúp lập kế hoạch và quản lý thỏa đáng các hệ sinh thái, đồng thời tạo công ăn việc làm và thu nhập cho cộng đồng địa phương.
Để đảm bảo nguyên tắc cân bằng sinh thái, cần phát triển du lịch trong phạm vi hoặc giới hạn của hệ sinh thái. Cộng đồng địa phương cần nhìn thấy các lợi ích thực tế và lâu dài, đồng thời du lịch phải đóng góp ngược lại vào việc bảo tồn thiên nhiên.
“UNDP cam kết đồng hành cùng Việt Nam nói chung và Bộ Nông nghiệp và Môi trường nói riêng để hiện thực hóa các mục tiêu về môi trường và đa dạng sinh học thành hành động thực tế”, bà Francesca Nardini khẳng định.
Dù được xem là một giải pháp hỗ trợ giảm phát thải trong một số ngành công nghiệp, nhưng công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) vẫn bị chỉ trích vì chi phí cao, chưa chắc chắn về kỹ thuật và có nguy cơ làm chậm quá trình cắt giảm phát thải tại nguồn…
Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp, Pháp đang chuyển trọng tâm từ phát triển công nghệ đơn lẻ sang xây dựng năng lực công nghiệp và hệ sinh thái hoàn chỉnh, từ hydrogen carbon thấp, điện hạt nhân thế hệ mới đến sản xuất thiết bị năng lượng sạch. Đây cũng là kinh nghiệm đáng chú ý đối với Việt Nam trong quá trình tìm kiếm công nghệ, vốn và mô hình hợp tác cho tăng trưởng xanh…
Rosatom nhìn thấy những cơ hội hợp tác rộng hơn tại Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ sản xuất bồi đắp kim loại. "Chúng tôi sẵn sàng xem xét khả năng nội địa hóa việc lắp ráp máy in 3D tại Việt Nam để phục vụ thị trường Đông Nam Á trong tương lai"...
Từ con tàu “Lenin” của Liên Xô đến đội tàu phá băng hạt nhân thế hệ mới của Nga, những con tàu này không chỉ mở đường xuyên qua lớp băng dày ở Bắc Cực mà còn trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển Tuyến đường biển phương Bắc (NSR). Với khả năng duy trì hoạt động dài ngày trong điều kiện khắc nghiệt, đội tàu góp phần bảo đảm vận chuyển dầu khí, khoáng sản và hàng hóa, đồng thời tạo nền tảng hạ tầng cho phát triển kinh tế, năng lượng và logistics tại Bắc Cực…
Thay vì chỉ phát triển các khu công nghiệp mới theo tiêu chí xanh, TP. Đồng Nai đang đặt ra lộ trình chuyển hóa những khu công nghiệp đã hình thành sang mô hình xanh, sinh thái. Từ sản xuất sạch hơn, cộng sinh công nghiệp đến sử dụng năng lượng hiệu quả và kiểm kê khí nhà kính, quá trình này đang được cụ thể hóa bằng một loạt kế hoạch trong năm 2026.
Rạng sáng 10.9 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Paris, bắt đầu thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, theo lời mời của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.
Việt Nam và Nga khẳng định quan hệ chính trị tin cậy ở mức cao là nền tảng cốt lõi để triển khai hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực khác. Hai bên coi hợp tác nhiên liệu - năng lượng là đột phá chiến lược trong quan hệ Việt Nam - Nga, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng cho cả hai nước.