
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, 10 tháng năm nay Việt Nam đã xuất khẩu gần 144 tỷ USD hàng hoá ra các nước. Trong đó, 10 mặt hàng lớn góp tới 103,2 tỷ USD, chiếm 71,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Khối FDI đóng góp lớn trong cơ cấu hàng xuất khẩu.
Điện thoại và linh kiện
Kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện tháng 10 đạt kim ngạch gần 2,84 tỷ USD, giảm 2,6% so với tháng trước, qua đó đưa kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 10 tháng đạt hơn 28,33 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ.
Các thị trường nhập khẩu điện thoại và linh kiện của Việt Nam là EU (28 nước) đạt kim ngạch hơn 8,97 tỷ USD, thị trường Hoa Kỳ đạt kim ngạch hơn 3,47 tỷ USD, thị trường Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất đạt kim ngạch gần 3,39 tỷ USD...
Hàng dệt may
Xuất khẩu hàng dệt may tháng 10 đạt hơn 1,93 tỷ USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng lên 19,68 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ.
Các thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất gồm Hoa Kỳ nhập gần 9,48 tỷ USD, EU đạt kim ngạch gần 2,9 tỷ USD, Nhật Bản đạt kim ngạch gần 2,38 tỷ USD...
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 10 đạt hơn 1,91 tỷ USD - tăng 10% so với tháng trước, nâng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng lên 14,8 tỷ USD - tăng 15,6% so với cùng kỳ.
Các thị trường nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam là EU đạt trị giá hơn 3 tỷ USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ; Trung Quốc với kim ngạch gần 2,9 tỷ USD, tăng 35,5% so với cùng kỳ; Hoa Kỳ với kim ngạch hơn 2,43 tỷ USD, tăng 4,3% ...
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
Xuất khẩu hơn 1,01 tỷ USD trong tháng 10, tăng 1,5% so với tháng trước, qua đó đưa tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 10 tháng lên 8,33 tỷ USD, tăng 25,5% so với cùng kỳ.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác chủ yếu được xuất khẩu sang Hoa Kỳ với kim ngạch hơn 1,72 tỷ USD, thị trường Nhật Bản đạt 1,28 tỷ USD, thị trường EU đạt 1,1 tỷ USD...
Hàng thủy sản
Xuất khẩu thủy sản trong tháng 10 đạt kim ngạch 724 triệu USD, tăng 8,8% so với tháng trước, qua đó đưa kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản trong 10 tháng lên 5,73 tỷ USD - tăng 6,4% so với cùng kỳ.
Xuất khẩu hàng thủy sản trong 10 tháng sang các thị trường như: Hoa Kỳ đạt 1,2 tỷ USD, EU đạt 986 triệu USD, Nhật Bản đạt 875 triệu USD, Trung Quốc với kim ngạch 540 triệu USD.
Gỗ và sản phẩm gỗ
Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 10 đạt kim ngạch 609 triệu USD, tăng 5,6% so với tháng trước, luỹ kế 10 tháng đạt 5,59 tỷ USD - tăng nhẹ 0,8%.
Gỗ và sản phẩm gỗ được xuất khẩu chủ yếu qua các thị trường chủ yếu như Hoa Kỳ với 2,52 tỷ USD, Nhật Bản với kim ngạch 803 triệu USD, thị trường Trung Quốc đạt 802 triệu USD...
Hàng nông sản gồm các nhóm hàng
Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản (hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, sắn, cao su) trong tháng 10 đạt 991 triệu USD, giảm 6,8% về trị giá so với tháng trước. Luỹ kế 10 tháng, xuất khẩu đạt gần 9,87 tỷ USD - tăng 7,1% so với cùng kỳ.
Các thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam là Trung Quốc đạt hơn 2,1 tỷ USD, thị trường EU với 2,16 tỷ USD, thị trường Hoa Kỳ với kim ngạch gần 1,53 tỷ USD,... Trong đó, nổi bật như mặt hàng hạt điều là mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 chỉ sau cà phê.
Dầu thô
Xuất khẩu dầu thô trong tháng 10 đạt gần 554.000 tấn, giảm nhẹ 0,9% về lượng nhưng tăng 8,8% về giá trị so với tháng trước. Luỹ kế 10 tháng, xuất khẩu dầu thô đạt 5,74 triệu tấn - giảm mạnh 25,4% và kim ngạch đạt 1,92 tỷ USD - giảm mạnh 41,2% so với cùng kỳ.
Dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Trung Quốc với 3,42 triệu tấn, tăng mạnh 129% so với cùng kỳ năm ngoái, sang Malaysia (434 nghìn tấn, giảm 66,3%), sang Australia (342.000 tấn, giảm 67,3%); sang Nhật Bản (371.000 tấn, giảm 69,8%) .
Giày dép
Xuất khẩu giày dép trong tháng 10 tăng mạnh đạt gần 1,05 tỷ USD, tăng 18,6% so với cùng kỳ. Luỹ kế xuất khẩu giày dép 10 tháng của Việt Nam đã vượt 10,4 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ.
Thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản...
Dù tiêu thụ 80% nguyên liệu rừng trồng, dăm gỗ và viên nén chỉ mang lại 3-4 tỷ USD trong tổng 18 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ. Trái lại, chế biến sâu chỉ dùng 20% nguyên liệu nhưng tạo ra giá trị xuất khẩu tới 14-15 tỷ USD. Chuỗi liên kết lỏng lẻo đang là điểm nghẽn lớn cản trở ngành trồng rừng - chế biến gỗ nâng cao giá trị gia tăng.
Trong bối cảnh giá cà phê thế giới đang phục hồi nhờ lo ngại nguồn cung từ Brazil, cùng triển vọng niên vụ mới đạt sản lượng kỷ lục, ngành cà phê Việt Nam đứng trước cơ hội gia tăng giá trị xuất khẩu nếu đẩy mạnh chế biến sâu và tận dụng hiệu quả các thị trường trọng điểm…
Dù Hàn Quốc tiếp tục khẳng định vị thế là đối tác thương mại và đầu tư chiến lược hàng đầu của Việt Nam, song áp lực nhập siêu gia tăng kỷ lục cùng các hàng rào tiêu chuẩn khắt khe đòi hỏi một bước chuyển dịch căn bản: Từ "xúc tiến theo sự kiện" sang "đo lường bằng kết quả thực chất"...
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP do Chính phủ ban hành ngày 31/7/2026 được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển quan trọng trong công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói khi chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang tự kê khai, hậu kiểm, qua đó rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục và giảm đáng kể gánh nặng hành chính cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp...
Liên tiếp các dự án nguồn điện được chấp thuận chủ trương đầu tư đang tạo thêm động lực cho Hà Tĩnh hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm năng lượng của khu vực Bắc Trung Bộ. Không chỉ bổ sung nguồn cung điện cho hệ thống quốc gia, các dự án còn mở ra dư địa phát triển công nghiệp, logistics và thu hút đầu tư quy mô lớn...
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Lương cơ sở chính thức tăng hơn một tháng, kéo theo áp lực giá cả tăng theo. Trong bối cảnh đó, Chính phủ triển khai hàng loạt các chính sách giãn, hoãn, miễn giảm thuế phí nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.