Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2026/NĐ-CP
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và
trẻ em.
Nghị định quy định phạt tiền từ 30 – 40 triệu đồng
đối với một trong các hành vi sau: Cung cấp sản phẩm, dịch vụ không an toàn,
gây tổn hại cho trẻ em; bán chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm
không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em; cho trẻ em sử dụng chất gây nghiện,
chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.
Đối với các hành vi vi phạm quy định về cấm lạm
dụng, bóc lột trẻ em, Nghị định quy định phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với
một trong các hành vi bắt trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian,
ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển
của trẻ em.
Phạt tiền từ 30 – 40 triệu đồng đối với một
trong các hành vi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sau: Tổ chức,
ép buộc trẻ em đi xin ăn; cho thuê, cho mượn trẻ em hoặc sử dụng trẻ em để xin
ăn; dẫn dắt, rủ rê, xúi giục, dụ dỗ, lôi kéo, kích động, lợi dụng, ép buộc làm
trung gian giao dịch hoạt động bóc lột trẻ em; dẫn dắt, rủ rê, xúi giục, dụ dỗ,
lôi kéo, kích động, lợi dụng, bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 40 – 50 triệu đồng đối với hành vi
lợi dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của trẻ em để tạo ra nội dung gây tổn hại
đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ hoặc để trục lợi nhưng chưa đến
mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cũng theo Nghị định, mức phạt tiền tối đa trong
lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em đối với cá nhân là 50 triệu đồng, đối
với tổ chức là 100 triệu đồng.
Trong đó, hành vi vi phạm quy định về khai hưởng
chính sách trợ giúp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán
người bị phạt từ 500.000 đồng đến 5 triệu đồng.
Hành vi vi phạm quy định về hỗ trợ nạn nhân bị
mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán bị phạt
từ 3 – 30 triệu đồng.
Hành vi vi phạm quy định về trách nhiệm chăm
sóc, nuôi dưỡng của người đứng ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ
xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em tại cộng đồng bị phạt từ 10 –
40 triệu đồng.
Cụ thể, phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng đối với
người đứng ra nhận nuôi dưỡng, chăm sóc thực hiện một trong các hành vi sau đối
với đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng nhưng không bị truy
cứu trách nhiệm hình sự: Bắt nhịn ăn; bắt nhịn uống; không cho hoặc hạn chế vệ
sinh cá nhân; bắt sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm; lăng mạ, ngược
đãi, xúc phạm, hành hạ, phân biệt đối xử đối với đối tượng bảo trợ xã hội, người
cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em.
Phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với người đứng
ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện một trong các hành vi nhưng chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự sau: Lợi dụng việc nhận chăm sóc, nuôi dưỡng để trục
lợi; ép buộc đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng lao động nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm.
Phạt tiền từ 30 – 40 triệu đồng đối với người đứng
ra nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện một trong các hành vi nhưng chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự sau: Dụ dỗ, lôi kéo đối tượng được nhận chăm sóc,
nuôi dưỡng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; ép buộc đối tượng được nhận
chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Mức phạt tiền trên là mức phạt được áp dụng đối
với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với cùng một hành vi vi
phạm hành chính, thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp hai lần mức phạt tiền đối
với cá nhân.