Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung đã giải đáp nhiều vấn đề liên quan đến việc hỗ trợ tạo việc làm, khôi phục thị trường lao động của các đại biểu Quốc hội trong phiên chất vấn chiều 10/11.
Tại phiên chất vấn, Đại biểu Huỳnh Thị Phúc, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đề cập tình trạng người dân về quê sau dịch dẫn đến thực trạng thiếu hụt lao động. Về vấn đề này, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung thừa nhận, những biến động về tình hình việc làm vừa qua cũng bộc lộ các vấn đề còn tồn tại của thị trường lao động.
Trên thực tế, thị trường lao động đang có 2 vấn đề lớn là: đào tạo chưa gắn với nhu cầu; chất lượng lao động thấp dẫn đến năng suất lao động thấp, mức độ đào tạo, bằng cấp của lao động thấp so với khu vực. Thực tế này xuất phát từ việc dự báo cung cầu lao động còn yếu.
“Tôi từng làm việc với TP. HCM và đặt hàng địa phương thử dự báo cung cầu lao động ngắn hạn trong 4 tháng. Kết quả là số người tham gia vào thị trường lao động ở khu vực còn thiếu, đang cần, có mức lương tốt lập tức thay đổi. Vậy nên nếu không nhanh chóng xây dựng công cụ dự báo cung cầu lao động tốt ở cả ngắn hạn, trung hạn, dài hạn thì thị trường sẽ còn những vấn đề bất cập”, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung dẫn chứng.
Vấn đề khác là liên kết đào tạo nghề hiện nay cũng còn “lỏng lẻo”. Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho rằng, ở các quốc gia phát triển, sự gắn kết giữa doanh nghiệp với nhà trường là đương nhiên và đã tồn tại hàng trăm năm. Chẳng hạn ở Đức, mỗi doanh nghiệp đều phải là một trường nghề, mỗi trường nghề đều có đủ máy móc, thiết bị cho học sinh học.
Tương tự ở các nước phát triển, doanh nghiệp cho rằng đào tạo lao động là bắt buộc, còn ở Việt Nam, hiện một số doanh nghiệp đã bắt đầu xúc tiến việc này nhưng chủ yếu vẫn là trông chờ kết quả đào tạo nghề của trường lớp. Vì vậy nên việc liên kết này vẫn chưa đưa lại hiệu quả.
Trong bối cảnh đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã yêu cầu các trường nghề lớn ký kết cụ thể với doanh nghiệp, từ khâu đặt hàng đào tạo tới đầu ra là chỗ làm để sinh viên chưa ra trường biết được sau khi ra trường mình về đâu.
Đối với tình trạng lao động gián đoạn, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, Bộ này đã xây dựng 3 kịch bản. Theo đó, kịch bản đầu tiên là sử dụng tất cả các đối tượng đang học nghề. Kịch bản thứ hai là đẩy nhanh tiến trình đào tạo để bổ sung lao động. Kịch bản thứ ba là sử dụng thêm bộ đội nghĩa vụ cho các chuỗi sản xuất.
Cũng tại phiên chất vấn, Đại biểu Cầm Thị Mẫn, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa đặt vấn đề, cần giải pháp căn cơ nào để phục hồi thị trường lao động. Vấn đề này, theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, là cần đưa ra các chính sách cả về ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Trước hết phải tập trung hỗ trợ rất tốt các chính sách an sinh xã hội theo Nghị quyết 68, Nghị quyết 116 của Chính phủ cho người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch.
Thứ hai là cần đẩy mạnh điều chỉnh lao động theo 3 mô hình để học sinh học nghề ngay năm thứ 2.
Thứ 3 đã được tham gia sản xuất, được trả một phần chi phí.
Cũng liên quan vấn đề này, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nói thêm rằng, trong báo cáo hôm 8/11 gửi Quốc hội ông đã viết bốn trang rất kỹ về các giải pháp.
Trong đó trước hết là nhóm giải pháp giữ chân người lao động;
Nhóm giải pháp thứ hai là thu hút người lao động quay trở lại;
Nhóm giải pháp thứ ba là giải quyết việc làm cho người lao động ở những nơi mà họ đã về mà họ không trở lại nơi cũ và cũng không tìm việc làm mới;
Nhóm giải pháp thứ tư là giải pháp điều tiết bổ sung trong những trường hợp đặc biệt ở những địa bàn, đối tượng, lĩnh vực cấp thiết.
Bộ trưởng cũng nhấn mạnh, quan trọng là phải lo thật tốt về chính sách, về đời sống, mức lương, thu nhập cho người lao động. Đồng thời, phải chăm lo an sinh thật tốt, có một sàn an sinh tối thiểu để người lao động có thể yên tâm như: vấn đề nhà trọ, nhà ở, vấn đề sinh hoạt, nơi gửi trẻ. Ngoài ra, cần bảo đảm cho an toàn tính mạng, sức khỏe của người lao động đó là tiêm vaccine.
Về giải pháp khắc phục những hạn chế an sinh xã hội lâu dài, Bộ trưởng nhắc lại, chúng ta phấn đấu phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; không đánh đổi tiến bộ, công bằng xã hội để lấy phát triển kinh tế đơn thuần. Vì vậy, hiện nay mặc dù ngân sách còn nhiều khó khăn nhưng Việt Nam là một trong những quốc gia được xếp đứng đầu khối ASEAN về đầu tư ngân sách cho an sinh xã hội.
“Chúng ta có các chính sách tương đối đồng bộ và hoàn thiện kể cả cho người có công, người yếu thế, người già, người có hoàn cảnh neo đơn, cho trẻ em và các đối tượng khác”, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nói.
Hiện Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đang tiếp tục hoàn thiện và xây dựng Đề án về vấn đề này, dự kiến đầu năm 2023 sẽ trình Ban Chấp hành Trung ương về củng cố, nâng cao chất lượng các chính sách xã hội của người dân trong thời gian tới.
Trong đó, sẽ chú trọng các vấn đề liên quan như: đời sống, thu nhập cho người nghèo; người yếu thế, người có công, vấn đề về nước sạch và vệ sinh môi trường... để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, phân hóa xã hội, để mọi người ai cũng được tham gia và ai cũng được thụ hưởng thành quả xã hội.




Việc sửa đổi đồng thời ba luật trong lĩnh vực ngân hàng được đặt ra trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý ngày càng cấp thiết. Dự thảo luật tập trung siết chặt phòng, chống rửa tiền theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn cơ chế, tạo nền tảng giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng…
Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu mỗi quy hoạch phát triển địa phương và quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với tầm nhìn "hướng Đông – tỏa Tây", "trục Bắc – Nam liền dải"...
Chủ tịch Quốc hội đề nghị ngành Ngoại giao quán triệt đầy đủ tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV, Nghị quyết số 06-NQ/TW và các nghị quyết, chỉ đạo của Đảng về đối ngoại. Tiếp tục nâng tầm, mở rộng quan hệ, phát huy ngoại giao kinh tế, tiên phong thu hút nguồn lực và các dòng vốn thế hệ mới...
Việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành luật là yêu cầu cấp thiết nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa...
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị ASEAN tăng cường đoàn kết, củng cố tin cậy chính trị, nâng cao tự cường, tự chủ chiến lược, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư…
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Lương cơ sở chính thức tăng hơn một tháng, kéo theo áp lực giá cả tăng theo. Trong bối cảnh đó, Chính phủ triển khai hàng loạt các chính sách giãn, hoãn, miễn giảm thuế phí nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.