
“Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân chúng ta đạt 5,95%, giai đoạn 2016-2020 là 6% và Chính phủ cũng đang đặt ra mục tiêu năm 2022 là từ 6% đến 6,5% và cho cả giai đoạn 2021-2025 là 6,5%-7%. Như vậy, mục tiêu tăng trưởng nhanh chúng ta vẫn đang duy trì khá tốt và vẫn nằm ở trong tốp các nước tăng trưởng kinh tế cao nhất trên thế giới. Nhưng ở khía cạnh phát triển bền vững, chúng ta chưa đạt được mục tiêu này”, đại biểu chỉ ra.
Theo đại biểu, điều này thể hiện ở phần tồn tại và hạn chế trong các báo cáo. Cụ thể, thu ngân sách của chúng ta vẫn phụ thuộc nhiều vào các nguồn thu về đất đai, dầu thô, tài nguyên hay xuất khẩu dù ấn tượng như chủ yếu đến từ khu vực FDI. Ngoài ra, các vấn đề về ô nhiễm môi trường còn rất nhức nhối. "Cho nên trong phần tham gia ý kiến của mình, tôi xin phép đề cập đến 3 chỉ số mà tôi cho rằng là quan trọng nhất, phản ánh được tăng trưởng bền vững của chúng ta trong thời gian tiếp theo", đại biểu nêu ý kiến.
Theo đại biểu TP. Cần Thơ, để đạt được sự bền vững trong vĩ mô, Chính phủ cần quan tâm đến 3 chỉ tiêu lớn: Chỉ số năng suất lao động bình quân, hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) và chỉ số năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP).
Ở chỉ số năng suất lao động bình quân, giai đoạn 2011-2015 đạt 4,3% và 2016-2020 đạt 5,8% và đặt mục tiêu khoảng 6,5% cho giai đoạn tiếp theo.
“Nếu so sánh với các nước xung quanh, theo số liệu thống kê năm 2020, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7,6% của Singapore, bằng 19,5% của Malaysia, bằng 37,9% của Thái Lan và 56,9% của Philippines. Tức là, so ngay với các nước láng giềng thì tốc độ tăng năng suất lao động của chúng ta vẫn ở mức rất khiêm tốn”, đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng phân tích và cho rằng cần đẩy nhanh hơn nữa mức tăng trưởng của chỉ tiêu này.
Theo đại biểu, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam vẫn cẫn còn cao, trình độ năng lực của lao động còn thấp, công nghệ lạc hậu, lĩnh vực sản xuất vẫn chủ yếu tập trung vào gia công và lắp ráp nên giá trị gia tăng thấp.
Ở chỉ số thứ hai, đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng mức hiệu quả sử dụng vốn ICOR 6,1 trong giai đoạn 5 năm nay gần đây được xem là khá cao, cho thấy hiệu suất của nền kinh tế, hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đầu tư của nền kinh tế tương đối thấp.
“Để so sánh, chúng ta thấy rằng trong cùng bối cảnh và cùng một trình độ phát triển kinh tế - xã hội, Nhật Bản những năm 70 và Hàn Quốc, Đài Loan những năm 80, chỉ số ICOR của họ chỉ dao động vào khoảng 2,5 đến 3, chỉ bằng nửa chúng ta hiện nay. So với các nước láng giềng như Thái Lan, Malaysia, họ cũng ở trong khoảng là 3 đến 4. Do vậy, chỉ số ICOR của chúng ta hiện nay vẫn ở mức quá cao so với các nước khác”, đại biểu dẫn chứng.
Đại biểu chỉ ra rằng, những dự án kéo dài và đội vốn lớn như là đường sắt Cát Linh - Hà Đông hay là Bến Lức - Long Thành, hay dự án điện Ô Môn 3 ở Cần Thơ khiến chỉ số ICOR khó có thể giảm xuống, mà nguyên nhân chủ yếu là sự phối hợp chưa tốt giữa các bộ, ngành, dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tư lớn.
Ở chỉ số nhân tố tổng hợp TFP, đại biểu cho rằng mục tiêu cho giai đoạn 2021-2025 là 45% là tương đối khiêm tốn khi mà ở giai đoạn 5 năm trước, chỉ số này đã là 45,42%
“Tôi đề nghị phải tăng chỉ số này lên và để làm vậy cần phải đầu tư và có những chính sách đột phá cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới, sáng tạo”, đại biểu đoàn TP. Cần Thơ nêu ý kiến.
Cũng tại phiên thảo luận, đồng tình với quan điểm của đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng về vấn đề năng suất lao động thấp nêu trên, đại biểu Nguyễn Quang Huân (Bình Dương) cho rằng dư địa về năng suất lao động hiện rất lớn.
Đại biểu dẫn chứng, từ năm 1990, năng suất lao động của Trung Quốc với của Việt Nam là tương đương nhau, nhưng sau 27 năm thì họ đã tăng liên tục 8,89%/năm, tức là tăng lên 9,4 lần và trong khi mức tăng của Việt Nam chỉ đạt 3,74 lần.
"Như vậy rõ ràng năng suất lao động của chúng ta, giống như mô hình của Hàn Quốc và Nhật Bản đang bị nén lại như lò xo. Đây là dịp tôi nghĩ có thể được tung ra nếu chúng ta tập trung vào nâng cao kỹ năng và đổi mới công nghệ", đại biểu Nguyễn Quang Huân nhận định.
Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội mới cho Việt Nam trong việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nhập khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu...
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các trường hợp áp dụng cơ chế thí điểm... song đề nghị cân nhắc phạm vi thí điểm.
Sáng 18/10, tại Hà Nội, dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam và các nước thành viên Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) đã ký Hiệp định thương mại tự do (VEFTA), mở ra cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư chất lượng cao và tăng cường kết nối chuỗi giá trị toàn cầu.
Sáng 18/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi).
Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì Lễ đón chính thức Thủ tướng Công quốc Liechtenstein Brigitte Haas thăm Việt Nam. Đây là chuyến thăm đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Liechtenstein kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 2008, mở ra cơ hội thúc đẩy hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Cận thị bệnh lý (cận thị thoái hóa/cận thị ác tính) là dạng cận thị nghiêm trọng và nguy hiểm nhất. Khác với cận thị thông thường, bệnh liên quan đến sự kéo dài bất thường và liên tục của trục nhãn cầu, dẫn đến các tổn thương cấu trúc ở đáy mắt và có nguy cơ cao gây mù lòa.