Tuần trước, hơn 30 quốc gia thành viên IEA, gồm các nước ở châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Á, nhất trí phối hợp rút 400 triệu thùng dầu từ dự trữ chiến lược của các nước để tăng cung cho thị trường, trong bối cảnh giá dầu leo thang dữ dội sau khi xung đột nổ ra.
Trong đợt xả cung này, Mỹ rút 172 triệu thùng dầu từ Dự trữ Dầu lửa Chiến lược (SPR), chiếm 43% tổng lượng xả của IEA.
Đây là đợt xả dự trữ dầu lớn chưa từng có trong lịch sử 50 năm của IEA, nhưng kể từ khi quyết định này được công bố vào hôm thứ Tư cho tới hết phiên giao dịch ngày thứ Sáu (13/3), giá dầu vẫn tăng hơn 17%. Diễn biến này cho thấy thị trường chưa đủ tin tưởng rằng lượng dầu dự trữ mà IEA tung ra có thể bù đắp hoàn toàn được sự gián đoạn nguồn cung dầu từ Trung Đông khi Iran đóng cửa eo biển Hormuz.
Nhà phân tích Tamas Varga của công ty môi giới PVM Oil nói với hãng tin CNBC rằng đang có quá nhiều lý do để giá dầu tăng thay vì giảm: các con tàu chở dầu ở Vịnh Ba Tư đang bị tấn công, giao thông qua eo biển Hormuz vẫn tê liệt, và lãnh tụ tối cao mới của Iran đã thề sẽ giữ cho eo biển này trong tình trạng đóng cửa để gây sức ép lên Mỹ.
“Cho tới khi giao thông ở Hormuz được khai thông, những tuyên bố kiểu như của IEA sẽ chỉ có tác động hạn chế tới thị trường”, Phó chủ tịch cấp cao Tom Liles của công ty tư vấn năng lượng Rystad Energy phát biểu.
Theo ông Liles, trước chiến tranh, Saudi Arabia, Iraq, Kuwait và Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) xuất khẩu khoảng 14 triệu thùng dầu mỗi ngày. Khoảng 5-6 triệu thùng dầu trong số này có thể được xuất khẩu qua các đường ống của Saudi Arabia và UAE nối giữa bờ Biển Đỏ và bờ Vịnh Oman. Như vậy, sẽ còn khoảng 9 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương khoảng 10% nguồn cung dầu toàn cầu, chỉ có thể đi qua eo Hormuz và còn ở trong tình trạng ách tắc chừng nào giao thông qua eo biển này còn đóng băng - ông Liles nhấn mạnh.
Nói cách khác, 400 triệu thùng dầu mà IEA tuyên bố cung ứng ra thị trường chỉ đủ bù đắp sự gián đoạn nguồn cung đó trong 40 ngày. Nhưng thực tế lại phức tạp hơn nhiều - ông Liles nói. “Trong một khoảng thời gian nhất định, số dầu có thể xuất kho là hạn chế. Không phải là 400 triệu thùng dầu có thể đưa ra thị trường ngay lập tức”, ông nói.
Mỹ cho biết sẽ xả 172 triệu thùng dầu dự trữ trong thời gian 120 ngày, tương đương 1,4 triệu thùng dầu được đưa ra thị trường mỗi ngày, chỉ bằng 15% lượng cung bị gián đoạn do eo biển Hormuz đóng cửa. Chưa kể, phải mất 13 ngày để Mỹ bắt đầu việc xả dự trữ dầu sau khi nhận được lệnh của Tổng thống Donald Trump.
IEA không cho biết cụ thể các thành viên khác sẽ bắt đầu xả dự trữ dầu khi nào, và từng nước sẽ xả bao nhiêu dầu. Tổ chức này chỉ nói mỗi thành viên sẽ tự đưa ra quyết định phù hợp với thực tế mỗi nước.
“Việc xả dự trữ dầu chỉ là cách câu giờ chứ không giải quyết được cuộc khủng hoảng”, một báo cáo của ngân hàng đầu tư Bernstein nhận định.
Theo ông Liles, giá dầu có thể tăng lên mức cao đủ để gây suy giảm nhu cầu trước khi dầu dự trữ được xả thực sự có mặt trên thị trường. Rystad dự báo nếu chiến tranh kéo dài 2 tháng, giá dầu Brent sẽ đạt mức 110 USD/thùng trong thời gian từ nay tới tháng 4. Còn nếu chiến tranh kéo dài 4 tháng, giá dầu Brent sẽ đạt mốc 135 USD/thùng trong thời gian từ nay đến tháng 6.
Trao đổi với CNBC, ông Chris Watling, nhà kinh tế trưởng của công ty Longview Economics nói: “Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu giá dầu tăng lên mức 200 hoặc thậm chí 250 USD/thùng, vì giá hàng hóa cơ bản đều có thể tăng theo chiều thẳng đứng khi nguồn cung khan hiếm”.
Tuy nhiên, không phải nhà phân tích nào cũng dự báo giá dầu sẽ đạt tới mức 200 USD/thùng, vì họ cho rằng thị trường năng lượng đã ở trong trạng thái nguồn cung dồi dào trước khi xung đột nổ ra.
Các chiến lược gia tại ngân hàng UBS dự báo đến cuối tháng 6, dầu Brent sẽ giảm về mức 90 USD/thùng, so với mức dự báo trước xung đột là 65 USD/thùng, và về mức 85 USD/thùng vào cuối năm, so với dự báo trước xung đột là 67 USD/thùng.
Tuần trước, ngân hàng Goldman Sachs dự báo giá dầu Brent sẽ bình quân ở mức 100 USD/thùng trong tháng 3 này và giảm về mức bình quân 85 USD/thùng trong tháng 4.
Cũng cần nói thêm rằng đợt xả dầu này sẽ khiến dự trữ dầu lửa của các nước IEA giảm mạnh. 400 triệu thùng dầu dự kiến được xả chiếm 33% trong tổng số 1,2 tỷ thùng dầu dự trữ của các thành viên IEA. Đối với Mỹ, số 172 triệu thùng dầu dự kiến được xả chiếm 41% trong số 415 triệu thùng dầu hiện có trong dự trữ chiến lược của nước này.
Chưa kể, IEA chưa có động thái nào để xử lý việc gián đoạn 20% nguồn cung khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu do eo Hormuz đóng cửa.
Trưởng phân tích Tobin Marcus của công ty Wolfe Research nhận xét động thái xả dầu dự trữ của IEA giúp giải tỏa một phần cú sốc gián đoạn nguồn cung dầu do chiến tranh. “Nhưng việc này không thể làm giảm bớt sự cần thiết của việc mở cửa lại eo biển Hormuz, và chúng tôi không cho rằng động thái của IEA sẽ giúp ích được thêm gì”, ông nói.