Theo khảo sát gần đây cho thấy giá keo hiện đang được phân loại thành ba nhóm chính. Đầu tiên là keo đen, loại không bóc vỏ, có giá dao động từ 1 - 1,5 triệu đồng/tấn. Tiếp theo là keo trắng, đã được bóc vỏ, với mức giá từ 1,2 - 1,3 triệu đồng/tấn. Cuối cùng, keo cọc, loại từ 5 năm tuổi trở lên, thường được sử dụng để sản xuất ván bóc hoặc nan, có giá từ 1,3 - 1,5 triệu đồng/tấn.
GIÁ TĂNG CAO, NHIỀU HỘ DÂN ĐỐN KEO NON BÁN
Đây là mức giá cao nhất trong vài năm qua. Điều này khiến người trồng rừng vừa phấn khởi vừa, nóng ruột. Theo nhận định của các chủ cơ sở thu mua, xu hướng giá keo trong năm 2025 dự kiến sẽ ổn định; tuy nhiên, từ đầu quý III đến nay, giá đã tăng mạnh, dẫn đến tình trạng nhiều bà con tranh thủ bán non để tận dụng cơ hội.
Điển hình như gia đình chị Hà Thị Thu, thôn Tân Quang, xã Thanh Kỳ, có 4 ha keo mặc dù mới 3 năm tuổi, nhưng đã khai thác.
“Biết rằng keo chưa đủ năm thì sản lượng thấp, nhưng hiện nay giá đang lên cao. Hơn nữa gia đình cũng cần một khoản tiền để trang trải nên buộc phải bán", chị Thu chia sẻ.
Chị Thu tính toán nếu chờ thêm khoảng một năm nữa, diện tích 4 ha keo có thể mang lại lợi nhuận khoảng 500 triệu đồng sau khi trừ đi các chi phí. Trong khi đó, nếu bán ngay lúc này, nguồn thu chỉ đạt chưa đến một nửa con số đó. Tuy nhiên, việc chờ đợi có thể tiềm ẩn rủi ro, bởi nếu giá cả giảm, thì sẽ mất cơ hội.
Tâm lý và tính toán của bà con nơi đây như trường hợp của chị Thu không phải hiếm. Nhiều diện tích keo tại Như Xuân, Thanh Kỳ và các vùng lân cận mới 3 - 4 năm tuổi cũng đang được bà con chặt bán rầm rộ, thay vì để tới 5 - 7 năm.
Thừa nhận thực tế này, ông Lê Chí Liệu, quản lý Nhà máy Chế biến gỗ Như Xuân (xã Xuân Bình) cho biết tình trạng khai thác keo non đang ngày càng phổ biến, đặc biệt khi giá gỗ lên cao.
Các cơ sở chế biến hầu như không còn mặn mà với loại keo 5 - 7 năm tuổi vì bà con ít để cây đủ chu kỳ. Khi giá cao, nhiều hộ bán cả keo mới 3 năm tuổi. Tuy nhiên những cây keo non này thân nhỏ, nhẹ, chất lượng gỗ thấp, chỉ làm dăm, không chế biến được các sản phẩm có giá trị cao.
Theo ông Liệu, "điều này sẽ ảnh hưởng tới vùng nguyên liệu, buộc chúng tôi phải đi mua keo từ nhiều nơi khác, làm tăng chi phí vận chuyển”.
Cũng theo ông, dù giá tăng mạnh nhưng lượng keo thu mua của các cơ sở chế biến không tăng đột biến, bởi nhiều diện tích đã được khai thác từ những năm trước, còn diện tích trồng mới thì chưa đến kỳ.
GIẢI PHÁP ĐỂ THOÁT VÒNG LUẨN QUẨN “TRỒNG – BÁN NON – TRỒNG LẠI”
Thanh Hóa hiện có hơn 100.000 ha rừng trồng keo, chiếm hơn 41% diện tích rừng trồng toàn tỉnh. Những năm qua, cây keo vừa phủ xanh đất trống đồi núi trọc, vừa chống xói mòn, cải tạo đất, lại vừa trở thành “của để dành” của hàng chục nghìn hộ dân miền núi. Nhiều gia đình xem rừng keo là chỗ dựa kinh tế mỗi khi cần một khoản tiền lớn, từ dựng nhà, lo học hành cho con đến giải quyết việc đột xuất...
Tuy nhiên, sự phụ thuộc quá nhiều vào thị trường khiến nghề trồng keo không bền vững. Khi giá cao, người dân đốn hạ ồ ạt, kể cả keo non; khi giá thấp, rừng keo lại bị bỏ bê, ít được chăm sóc. Vòng luẩn quẩn “trồng – bán non – trồng lại” cứ lặp đi lặp lại, khiến năng suất không cao, chất lượng gỗ giảm, còn vùng nguyên liệu chế biến luôn trong tình trạng bấp bênh.
Theo ngành nông nghiệp, để tháo gỡ tình trạng này, giải pháp quan trọng nhất là phát triển rừng gỗ lớn. Nếu để chu kỳ từ 8 - 10 năm, giá trị kinh tế mang lại cao gấp 2 - 3 lần so với bán keo non làm dăm. Ngoài lợi ích về thu nhập, rừng gỗ lớn còn có giá trị môi trường lâu dài: giữ đất, giữ nước, chống xói mòn và góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Đây cũng là hướng đi được khuyến khích, nhằm nâng cao hiệu quả trồng rừng và tạo sinh kế bền vững.
Nếu không có giải pháp, vòng xoáy “trồng – bán non – trồng lại” sẽ còn tiếp diễn, làm giảm năng suất, chất lượng và ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài. Ngược lại, nếu trồng keo theo hướng gỗ lớn được mở rộng, rừng keo sẽ không chỉ là nguồn thu nhập ngắn hạn, mà trở thành sinh kế bền vững, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường.
Tất nhiên, để bà con giữ rừng đến tuổi mới khai thác là không hề dễ. Ông Lại Thế Chiến, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Như Thanh, cho rằng đất rừng đã giao cho từng hộ, nên họ tự quyết định thời điểm khai thác. Chính quyền và ngành lâm nghiệp chỉ có thể tuyên truyền, khuyến cáo, chứ không thể can thiệp trực tiếp.
Thêm vào đó, diện tích đất của nhiều hộ nhỏ lẻ, manh mún, khó tích tụ thành vùng nguyên liệu lớn. “Người dân trồng rừng cần vốn đầu tư ban đầu, lại phải chờ nhiều năm mới có thu hoạch. Nếu không có nguồn thu nhập khác để bù đắp trong thời gian chờ, thì khó ai dám giữ rừng đủ chu kỳ dài”, ông Chiến phân tích.
Theo ông Chiến, để hạn chế tình trạng bà con “đốn keo non”, ngành nông nghiệp và chính quyền các địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giúp người dân hiểu rõ lợi ích của rừng gỗ lớn và tác hại của việc khai thác sớm. Đồng thời, triển khai các mô hình nông - lâm kết hợp; trồng xen cây ngắn ngày hoặc cây dược liệu để đảm bảo duy trì rừng gỗ lớn và nguồn thu nhập cho người dân.
Cùng với đó, cần huy động nguồn lực xã hội để hỗ trợ vốn, kỹ thuật; thúc đẩy cấp chứng chỉ rừng FSC, gắn chế biến với xuất khẩu để nâng cao giá trị gia tăng. Triển khai thực hiện các mô hình nông lâm kết hợp, mô hình kinh doanh rừng bền vững hỗn giao giữa cây gỗ lớn với các loài cây chu kỳ kinh doanh ngắn để đảm bảo thu nhập cho các hộ gia đình trong khi rừng gỗ lớn chưa đến kỳ khai thác...
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cũng bắt đầu hình thành một số mô hình nông – lâm kết hợp tại các khu vực Thường Xuân và Quan Sơn và đã cho kết quả khả quan. Ở những nơi này, người dân trồng xen nghệ, gừng, sả… vừa có thu nhập hằng năm, vừa giữ được rừng đến tuổi.
Thực tế ở Thanh Hóa cho thấy giá keo tăng cao mang lại cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn thách thức. Nếu không có giải pháp, vòng xoáy “trồng – bán non – trồng lại” sẽ còn tiếp diễn, làm giảm năng suất, chất lượng và ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài. Ngược lại, nếu trồng keo theo hướng gỗ lớn được mở rộng, cùng với sự đồng hành của chính quyền và doanh nghiệp, rừng keo sẽ không chỉ là nguồn thu nhập ngắn hạn, mà trở thành sinh kế bền vững, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
Bộ Nội vụ cho biết, đối với khu vực doanh nghiệp, Nhà nước chỉ quy định mức lương tối thiểu là mức sàn thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường. Không hạn chế mức tối đa đối với chuyên gia, người có tài năng, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đóng góp nhiều cho doanh nghiệp...
Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (sửa đổi) đã bổ sung nhằm bao quát các trường hợp phát sinh trong thực tiễn liên quan đến loại tài sản, xác định giá, bồi thường, trách nhiệm giải trình... Đồng thời, tăng cường phân cấp, phân quyền; bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp...
Theo kế hoạch, từ ngày 1/9/2026, hệ thống Bảo hiểm xã hội sẽ thực hiện chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân. Việc chuyển đổi sẽ không ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng các chế độ...
Xét trong tổng thể chủ trương đổi mới quản lý viên chức và sắp xếp hệ thống các cơ sở giáo dục công lập đang được Chính phủ và Thành phố Hà Nội triển khai, Hà Nội quyết định dừng tổ chức kỳ xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên năm 2026...
Pháp luật về lao động hiện hành yêu cầu doanh nghiệp cho thuê lại lao động ký quỹ 2 tỷ đồng. Theo các chuyên gia, tiền ký quỹ là công cụ bảo đảm quan trọng của mô hình hậu kiểm đối với hoạt động cho thuê lại lao động. Đồng thời, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường và đảm bảo trách nhiệm đối với người lao động thuê lại...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Nhà ga T2 Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc đang bước vào giai đoạn hoàn thiện mặt ngoài với hơn 9.500 tấm kính Unitized. Toàn công trường huy động khoảng 6.500 kỹ sư, công nhân thi công ba ca, bốn kíp để hướng tới vận hành thử vào tháng 4/2027.