
"Nếu ngân hàng vẫn nhận tiền gửi của người dân bằng ngoại tệ, bằng kim loại quý thì can cớ gì chỉ bảo hiểm tiền đồng mà không bảo hiểm các loại tiền khác?", Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Phùng Quốc Hiển đặt vấn đề tại phiên thảo luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 14/12.
Tại báo cáo giải trình về một số vấn đề lớn dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh lý của dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi, cơ quan thẩm tra dự án luật - Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết, quá trình thảo luận tại kỳ họp Quốc hội thứ hai vừa qua vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về loại tiền gửi được bảo hiểm.
Bên cạnh 18 ý kiến nhất trí với quy định của dự án luật, chỉ bảo hiểm đối với tiền gửi bằng VND thì có tới 49 ý kiến đề nghị xem xét việc bảo hiểm tiền gửi đối với tiền gửi bằng ngoại tệ và kim loại quý (vàng…). Nhằm đảm bảo sự công bằng đối với người gửi tiền, huy động lượng lớn ngoại tệ và vàng gửi vào hệ thống ngân hàng do tập quán tích trữ vàng trong dân vẫn phổ biến và đây cũng là những tài sản sở hữu hợp pháp của người dân.
Đáng chú ý, trong số 49 ý kiến này có cả đề nghị mạnh mẽ của
đại biểu đang làm việc tại ngành ngân hàng.
Kiên trì đề nghị chỉ bảo hiểm tiền gửi bằng đồng Việt Nam, Thường trực Ủy ban Kinh tế lý giải, chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam cấm sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam và không khuyến khích người dân tích trữ ngoại tệ mà nên bán lại cho ngân hàng.
Khi người dân quyết định giữ tài sản của mình dưới dạng ngoại tệ hay kim loại quý là một hình thức tự phòng ngừa rủi ro do lo ngại sự mất giá của đồng nội tệ. Việc không bảo hiểm tiền gửi đối với ngoại tệ và kim loại quý của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng không làm ảnh hưởng tới quyền sở hữu hợp pháp của người dân đối với các loại hình tài sản này.
Tuy nhiên, lý lẽ này chưa đủ thuyết phục nhiều vị ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chủ nhiệm Hiển đề nghị cả hai cơ quan soạn thảo và thẩm tra giải thích cặn kẽ hơn về lý do bảo lưu quan điểm chỉ bảo hiểm cho đồng Việt Nam. Trong khi lượng ngoại tệ, vàng trong dân vẫn rất nhiều, sao không tận dụng để hút số tài sản này vào ngân hàng, để làm 1 kênh quản lý tốt hơn là để trôi nổi?
Còn theo quan điểm của Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai thì giải thích việc quy định như dự thảo luật không ảnh hưởng tới quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người dân là không thuyết phục. Do trên thực tế, dù là VND hay ngoại tệ, vàng đối với người gửi tiền đều là tài sản có giá trị như nhau.
Nếu không nhận tiền gửi bằng ngoại tệ và kim loại quý thì thôi, còn đã nhận thì phải bảo hiểm như nhau để đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền, bà Mai rõ ràng quan điểm.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý cũng chưa đồng tình với lý giải của cơ quan thẩm tra.
Sau nhiều ý kiến trái chiều, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Trần Minh Tuấn được mời phát biểu, nhấn mạnh rằng quy định chỉ bảo hiểm tiền gửi đối với VND nhằm mục đích quản lý ngoại hối, quản lý tỷ giá và tiến tới mục tiêu lâu dài chỉ sử dụng tiền đồng Việt Nam.
“Nếu cứ để hoài như hiện nay đến bao giờ làm được? Phải làm sao tiến tới mục tiêu lâu dài chỉ dùng tiền đồng Việt Nam. Thông lệ quốc tế cũng không có nước nào bảo hiểm tiền ngoại tệ cả. Họ cũng khuyến khích ta nên theo mô hình chi trả mở rộng với đồng nội tệ”, ông Tuấn nói.
Bên cạnh nội dung nói trên, một số vấn đề lớn khác cũng được Ủy ban Kinh tế báo cáo tại phiên thảo luận. Theo đó, cơ quan này đề nghị để bảo đảm tính minh bạch và tạo lòng tin cho người dân, về lâu dài cần quy định hạn mức trả tiền bảo hiểm cụ thể ngay trong luật và đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu hạn mức trả tiền bảo hiểm hợp lý, phù hợp với chuẩn chung của khu vực và thông lệ quốc tế.
Còn trong điều kiện cụ thể của nước ta đang tiến hành tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và năng lực tài chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi còn nhỏ, đồng thời nhằm tăng tính linh hoạt điều hành, Thường trực Ủy ban Kinh tế đề nghị giao Thủ tướng Chính phủ quy định và điều chỉnh hạn mức trả tiền bảo hiểm theo từng thời kỳ trên cơ sở đề xuất của Ngân hàng Nhà nước.
Với mô hình hoạt động, cơ quan thẩm tra đề nghị bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hoạt động theo mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng.
Mô hình này phù hợp với mục đích và sự cần thiết xây dựng luật cũng như phù hợp với đặc thù trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và yêu cầu đảm bảo an toàn hệ thống tài chính quốc gia, Chủ nhiệm Nguyễn Văn Giàu nhấn mạnh.




Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa giải thích những thông tin phản ánh chưa đúng các quy định tại dự thảo Thông tư về trình tự, thủ tục giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng...
Để thanh toán QR xuyên biên giới phát triển theo chiều rộng và đi vào chiều sâu, kết nối hạ tầng mới chỉ là bước đầu; yêu cầu tiếp theo là mở rộng điểm chấp nhận, gia tăng giao dịch và tạo giá trị cho nền kinh tế. a/b lược ghi ý kiến của cơ quan quản lý và các thành viên thị trường tại Hội thảo “Thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR: Động lực mới cho bán lẻ và du lịch” về định hướng và giải pháp thúc đẩy phương thức thanh toán này trong thời gian tới.
Việt Nam hiện đã hoàn tất kết nối thanh toán QR xuyên biên giới với 6 quốc gia trong khu vực và châu Á, đang triển khai kết nối với Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ và tiếp tục triển khai mở rộng dịch vụ với các quốc gia khác trong thời gian tới.
Khi thanh toán QR xuyên biên giới ngày càng mở rộng, bài toán không còn dừng ở việc kết nối thêm bao nhiêu quốc gia mà ở khả năng biến một thao tác quét mã đơn giản thành sức mua, doanh thu cho doanh nghiệp và dòng tiền minh bạch cho nền kinh tế. Muốn vậy, hệ sinh thái cần chuyển từ “kết nối được” sang “sử dụng được và sử dụng hiệu quả”.
Đại diện cơ quan quản lý và thành viên thị trường đề xuất thí điểm mô hình xã hội hóa, đưa thanh toán QR xuyên biên giới vào các khu vực tập trung đông du khách quốc tế như phố đi bộ, phố ẩm thực, chợ đêm, làng nghề và khu kinh tế đêm. Từ đó, hình thành các “tuyến phố thanh toán số” thông suốt, liền mạch, thúc đẩy chi tiêu của du khách nước ngoài...
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Thay vì đốt bỏ gây lãng phí và gây ô nhiễm môi trường, những phế phụ phẩm từ lâm nghiệp được tận dụng để trồng nấm hữu cơ theo chuỗi tuần hoàn. Đó chính là mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững ở xã Hương Cần, tỉnh Phú Thọ.