Tuy nhiên, việc các nền kinh tế này cắt giảm thuế quan có thể giúp mang lại một cú huých lớn - nhà kinh tế trưởng Indermit Gill của Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định.
Ông Gill nói rằng giới kinh tế học trên toàn cầu đang giảm mạnh dự báo tăng trưởng đối với các nền kinh tế phát triển, nhưng giảm ít hơn đối với các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển - chí ít là ở thời điểm hiện tại - sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đưa ra một loạt kế hoạch áp thuế quan lên hàng hóa nhập khẩu.
Tại chuỗi sự kiện mùa xuân thường niên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và WB diễn ra ở Washington, Mỹ trong tuần vừa rồi, tâm trạng chung là lo ngại về tác động kinh tế của việc Mỹ dâng hàng rào thuế quan cao nhất trong khoảng 1 thế kỷ trở lại đây, cũng như các biện pháp trả đũa mà Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU) và Canada đã công bố đối với hàng hóa Mỹ.
Hôm thứ Ba tuần trước, IMF đã cắt giảm dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới, trong đó dự báo về kinh tế Mỹ, Trung Quốc và hầu hết các nền kinh tế khác đều bị cắt giảm. Báo cáo cập nhật của IMF cảnh báo rằng căng thẳng thương mại càng gia tăng, triển vọng tăng trưởng kinh tế sẽ càng thụt lùi. Định chế này dự báo nền kinh tế toàn cầu chỉ tăng 2,8% trong năm nay, thấp hơn 0,5 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra hồi tháng 1.
Phải đến tháng 6 WB mới công bố dự báo kinh tế thế giới cập nhật mỗi năm 2 lần. Tuy nhiên, ông Gill nói rằng sự đồng thuận của giới kinh tế học toàn cầu ở thời điểm hiện tại là giảm mạnh các dự báo về tăng trưởng kinh tế và thương mại. Ngược lại, các chỉ số về sự bất định tăng vọt kể từ sau khi ông Trump công bố kế hoạch thuế quan đối ứng vào hôm 2/4.
Khác với các cú sốc mà kinh tế toàn cầu từng trải qua trong những năm gần đây, gồm cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 và đại dịch Covid-19, cú sốc hiện nay là kết quả của chính sách mà một chính phủ đưa ra, đồng nghĩa cú sốc có thể được đảo ngược - ông Gill nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn hãng tin Reuters.
Ông nói cuộc khủng hoảng hiện nay có thể khiến tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi suy giảm hơn nữa, sau khi đã giảm từ mức khoảng 6% cách đây 2 thập kỷ, vì thương mại toàn cầu hiện được dự báo chỉ tăng khoảng 1,5% trong năm nay, thấp hơn nhiều so với mưc tăng 8% ghi nhận vào thập niên 2000.
“Đó là một sự giảm tốc đột ngột trên một bức nền vốn dĩ đã không được tốt”, ông nói, nhấn mạnh rằng dòng vốn đầu tư danh mục và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các nền kinh tế mới nổi cũng đang trong xu hướng giảm, tương tự như trong các cuộc khủng hoảng trước. “Vào những thời điểm thuận lợi, vốn FDI chiếm khoảng 5% GDP của các thị trường mới nổi. Mức đóng góp hiện tại chỉ là 1%, và cả dòng vốn danh mục và vốn FDI vào các thị trường này đều đang giảm”.
Trong bối cảnh như vậy, mức nợ cao đồng nghĩa rằng khoảng một nửa trong số 150 nền kinh tế mới nổi và đang phát triển của thế giới đã rơi vào hoặc có thể sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng trả nợ. Đây là tỷ lệ cao gấp đôi so với thời điểm năm 2024, và có thể tăng cao hơn nữa nều kinh tế toàn cầu tiếp tục giảm tốc - ông Gill cảnh báo.
“Nếu tăng trưởng toàn cầu chậm lại, thương mại chậm lại, mà lãi suất còn cao, nhiều quốc gia sẽ rơi vào tình trạng căng thẳng nợ, trong đó có những nước phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu hàng hóa cơ bản”, nhà kinh tế trưởng của WB nói.
Tỷ lệ tiền trả lãi nợ công so với GDP - một thước đo quan trọng về gánh nặng nợ nần của một quốc gia - hiện đang ở mức 12% đối với các thị trường mới nổi, tăng mạnh so với mức 7% vào năm 2014 và bằng mức của những năm 1990. Tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn ở nhóm nước nghèo, với tiền trả lãi nợ công hiện tương đương 20% GDP, so với tỷ lệ 10% cách đây 1 thập kỷ.
Phải chi nhiều tiền để trả lãi hơn đồng nghĩa các quốc gia sẽ có ít ngân sách hơn cho giáo dục, y tế và các chương trình khác có thể thúc đẩy sự phát triển - ông Gill nhấn mạnh.
Lãi suất được dự báo sẽ giữ ở mức cao ở nhiều nền kinh tế, xét tới dự báo cho rằng lạm phát sẽ tăng vì thuế quan. Như vậy, tình trạng nợ nần của các quốc gia này có thể trầm trọng thêm nếu họ phải đi vay nợ mới để trả các khoản nợ cũ.
Lời khuyên mà ông Gill đưa ra cho các quốc gia đang phát triển là nhanh chóng và tích cực đàm phán thỏa thuận thương mại với Mỹ, để hạ thuế quan của chính mình xuống và tránh mức thuế quan cao của Mỹ, đồng thời hạ thuế quan cho cả các quốc gia khác. Ông nói rằng mô hình của WB cho thấy việc giảm thuế quan như vậy sẽ kích thích mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế.
Một nghiên cứu mới cho thấy dân số già đi và thu hẹp không nhất thiết kéo lùi kinh tế. Trái lại, xu hướng này có thể thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mạnh hơn, qua đó nâng cao năng suất lao động...
Ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi tại Nhật Bản đang đối mặt với nhiều khó khăn...
Khi AI và nền kinh tế số làm bùng nổ nhu cầu truyền tải dữ liệu, hệ thống cáp quang dưới biển không còn chỉ là hạ tầng viễn thông mà đã trở thành tài sản chiến lược của các quốc gia. Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc vì thế đang mở rộng xuống đáy đại dương, nơi kiểm soát các tuyến cáp đồng nghĩa với lợi thế về công nghệ, kinh tế và an ninh…
Trung Quốc chiếm 38% tổng số hồ sơ đăng ký bằng sáng chế công nghệ tài chính toàn cầu trong 10 năm qua, vượt qua Mỹ với 17%...
“Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu đồng yên tăng giá tới khoảng 130 yên đổi 1 USD”, một cựu quan chức Bộ Tài chính Nhật Bản nói...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Sự chia sẻ lớn hơn của chính sách tài khóa; các công cụ điều tiết, đảm bảo sự vận hành của thị trường, lưu thông hàng hóa; chính sách về an ninh năng lượng, dự trữ năng lượng... là những giải pháp được đề xuất để giảm áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm.