Phát biểu chỉ đạo tại hội thảo “Vật liệu xây dựng xanh – xu thế phát triển bền vững” do Báo Xây dựng tổ chức ngày 5/5/2026, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh nhận định trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, phát triển kinh tế carbon thấp, ngành xây dựng cũng đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện hơn.
Trong đó, lĩnh vực vật liệu xây dựng có vị trí đặc biệt quan trọng, bởi đây là ngành cung cấp đầu vào cơ bản cho phát triển kết cấu hạ tầng, đô thị, nhà ở, công nghiệp và các công trình kinh tế - xã hội. Đồng thời, đây cũng là lĩnh vực sử dụng nhiều tài nguyên, năng lượng và chịu áp lực lớn về môi trường, phát thải. Vì vậy, xanh hóa ngành vật liệu xây dựng không chỉ là xu hướng, mà trở thành đòi hỏi cấp thiết của phát triển.
Theo Thứ trưởng, để đáp ứng yêu cầu này, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển, khuyến khích sản xuất và sử dụng các loại vật liệu thân thiện môi trường như: vật liệu xây không nung, vật liệu tái chế, vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu phát thải thấp.
Đáng chú ý, Quyết định số 1658/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quyết định 1266 định hướng phát triển vật liệu xây dựng xanh đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi. Cùng với đó, các quy định trong Luật Xây dựng, Luật Tài nguyên và Môi trường, Nghị định 09 về vật liệu xây dựng cũng từng bước lồng ghép yêu cầu phát triển vật liệu xanh.
Song song với hoàn thiện thể chế, Bộ Xây dựng đã có những hành động cụ thể như: Tuần lễ xanh với nhiều nội dung phát triển vật liệu xanh, giao thông xanh. Qua đó, hỗ trợ, góp phần thúc đẩy, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc sản xuất, phát triển vật liệu xây dựng xanh.
Trên thực tế, các dòng vật liệu xây dựng xanh cũng có bước phát triển rõ nét, đặc biệt là vật liệu xây không nung với các chủng loại: gạch xi măng cốt liệu, bê tông khí chưng áp, bê tông bọt, tấm tường rỗng đùn ép... Hiện nay, cả nước có khoảng 2.900 cơ sở sản xuất vật liệu xây không nung hoạt động với tổng công suất thiết kế 12,4 tỷ viên quy tiêu chuẩn/năm, chiếm 40% tổng công suất thiết kế vật liệu xây. Năm 2025, sản lượng sản xuất đạt trên 7,2 tỷ viên quy tiêu chuẩn, tiêu thụ khoảng 6,7 tỷ viên. Nhóm sản phẩm này giúp giảm sử dụng đất sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, giảm tiêu hao nhiên liệu hóa thạch, hạn chế phát thải và góp phần xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao từ các ngành công nghiệp làm nguyên liệu sản xuất.
Ngoài ra, một số dòng vật liệu hoàn thiện và bao che công trình có tính năng tiết kiệm năng lượng được nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng. Tiêu biểu là sản phẩm kính Low-E, kính Solar Control giảm truyền nhiệt qua hệ bao che, hạn chế bức xạ mặt trời...
Đại diện Bộ Xây dựng cho biết nhiều sản phẩm vật liệu xây dựng trong nước đã từng bước tiếp cận hệ thống chứng nhận xanh, chứng nhận môi trường và những yêu cầu kỹ thuật cao của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình chuyển đổi xanh của ngành vật liệu xây dựng vẫn còn nhiều khó khăn. Chi phí đầu tư công nghệ cao, sức ép cạnh tranh lớn, trong khi thị trường chưa thực sự sẵn sàng do thói quen sử dụng vật liệu truyền thống. Mặt khác, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và cơ chế khuyến khích chưa hoàn thiện; việc tiếp cận tín dụng xanh và các ưu đãi hỗ trợ vẫn là trở ngại với doanh nghiệp.
Vì vậy, Bộ Xây dựng đang tiếp tục hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan để cụ thể hóa các định hướng của Nhà nước, bao gồm Nghị định quản lý vật liệu xây dựng thay thế Nghị định số 09/2021/NĐ-CP; Thông tư quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng thay thế cho Thông tư số 10/2024/TT-BXD.
Điểm đáng chú ý trong dự thảo Nghị định thay thế là định hướng xây dựng khung quản lý, phát triển vật liệu xây dựng theo hướng gắn với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Về lâu dài, đây là nền tảng quan trọng để tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định hơn cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển vật liệu mới, vật liệu tái chế, vật liệu xanh và mở rộng thị trường cho các sản phẩm vật liệu xây dựng có chất lượng, có trách nhiệm môi trường cao hơn.
Làm rõ hơn các định hướng, ông Lê Văn Kế, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), cho rằng trước yêu cầu phát triển mới, việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng trong giai đoạn tới cần tập trung vào một số nội dung trọng tâm.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, thống nhất, ổn định, minh bạch và có tính dẫn dắt phát triển. Trong đó, làm rõ ranh giới giữa quản lý Nhà nước ở trung ương và địa phương; giữa quản lý phát triển ngành và quản lý chất lượng hàng hóa; giữa quản lý chuyên ngành với quản lý môi trường, khoáng sản, hải quan, thương mại…
Thứ hai, đổi mới mô hình phát triển ngành theo hướng xanh, tuần hoàn, phát thải thấp và giá trị gia tăng cao. Ngành vật liệu xây dựng phải đẩy mạnh sử dụng nguyên nhiên liệu thay thế, tận dụng tro, xỉ, thạch cao nhân tạo... Giảm dần dây chuyền công nghệ lạc hậu, tiêu tốn tài nguyên, phát thải cao.
Thứ ba, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế và phù hợp thực tiễn Việt Nam.
Thứ tư, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn ngành. Thúc đẩy đầu tư đổi mới dây chuyền sản xuất, làm chủ công nghệ, phát triển vật liệu mới…
Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế phát triển thị trường vật liệu xây dựng trên cơ sở nâng cao nội lực, ổn định cung - cầu và tăng sức cạnh tranh quốc tế.
Theo ông Kế, từ nay đến năm 2030 và xa hơn là đến năm 2045, ngành vật liệu xây dựng phải chuyển mình từ một ngành sản xuất truyền thống sang một ngành sản xuất hiện đại, xanh, thông minh, có năng lực cạnh tranh cao, có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
Tại M Riverside Danang, mọi trải nghiệm từ làm việc - sống - nghỉ dưỡng đến kết nối với nhịp sống thành phố đều được đặt trong cùng một hệ sinh thái ven sông, nơi cảm giác nghỉ dưỡng không còn là đặc quyền của những kỳ “vacation” ngắn ngày, mà trở thành một phần tự nhiên của đời sống thường nhật.
Với hơn 41.000 người nước ngoài đăng ký tạm trú tại địa bàn, chủ yếu là chuyên gia và lao động tại các doanh nghiệp FDI, nhu cầu nhà ở và môi trường sống đồng bộ ngày càng rõ nét tại Bắc Ninh...
Số lượng người nước ngoài làm việc và sinh sống tại Việt Nam ngày càng tăng, nhưng thị trường nhà ở dành cho nhóm khách hàng này vẫn chưa phát triển tương xứng. Tại Bắc Ninh, khoảng cách giữa nhu cầu tiềm năng và khả năng tiếp cận nhà ở đang đặt ra nhiều vấn đề về nguồn cung, chính sách và dịch vụ…
Thành phố Bắc Ninh hiện có 20 dự án nhà ở thương mại đã được công bố đủ điều kiện bán cho người nước ngoài. Tuy nhiên, nguồn cung thực sự phù hợp và có khả năng để người nước ngoài tiếp cận, sở hữu vẫn chưa tương vẫnxứng với nhu cầu thực...
Khu liên hiệp cao ốc, trung tâm thương mại văn phòng và căn hộ (phường An Khánh), Khu nhà ở CC-III và CC-IV (phường Long Bình), Khu nhà ở cao tầng (phường Thảo Điền), Khu căn hộ Habitat (phường Bình Hòa) là 04 dự án vừa được UBND TP. Hồ Chí Minh cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu (đợt 16)…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Tuyệt đối không để nền kinh tế thiếu điện và thiếu xăng dầu, đó là khẳng định từ Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi. Kịch bản tăng trưởng kinh tế 3 tháng cuối năm cũng được xác định rõ để từng bộ, từng địa phương đều hoàn thành kế hoạch của cả năm, đưa kinh tế cả nước đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.