
Để tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, các giải pháp tài khóa và tiền tệ đang được tích cực áp dụng theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Dù vậy, theo đánh giá của chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, hiệu quả của chính sách chưa được như kỳ vọng.
Thưa ông, chính sách tài khóa hỗ trợ doanh nghiệp đã có tác động như thế nào đến nền kinh tế trong thời gian qua?
Về mặt hỗ trợ doanh nghiệp, đáng chú ý nhất trong thời gian qua, chính sách tài khóa được áp dụng theo hướng giãn giảm thuế. Cách làm này phần nào giúp doanh nghiệp hoạt động, tạo được lợi thế cho doanh nghiệp làm việc và tồn tại trong thời kỳ khó khăn.
Nhưng đó là tác động đối với những doanh nghiệp có thu nhập để đóng thuế còn những doanh nghiệp thực sự khó khăn vẫn chưa nhận được hỗ trợ gì.
Trong khi đó, khó khăn nhất trong thời gian qua không phải là doanh nghiệp có thu nhập đóng thuế mà lại là doanh nghiệp không làm ăn được gây ra những khó khăn khác cho thị trường lao động.
Trong đó, việc giải quyết tồn kho cũng chính là một việc mà các doanh nghiệp đang cần sự giúp đỡ của Chính phủ. Bởi lẽ, sức mua giảm đó là lý do làm tăng lượng hàng tồn kho. Nếu “đầu ra” không giải quyết được thì các doanh nghiệp sẽ không đủ sức để tiếp tục sản xuất.
Mặt khác, trong chính sách hỗ trợ này vẫn có thể xuất hiện tiêu cực từ tình trạng xin – cho. Đây cũng là vấn đề cần lưu ý khi xây dựng cơ chế chính sách và cách thực thi trong thực tế.
Theo ông, song hành với chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ có đạt được hiệu quả cần thiết?
Chính sách tiền tệ năm qua chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Từ cuối năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo phải rút lãi suất xuống nhưng hai năm qua vẫn chưa làm được. Dù đã giảm nhưng lãi suất vẫn còn ở mức khó tiếp cận đối với doanh nghiệp.
Nguyên nhân của việc chậm trễ này là quản lý hệ thống ngân hàng không chặt chẽ dẫn đến tình trạng huy động vốn giá cao và cho vay ra cũng cao giá. Năm qua, các bước điều chỉnh lãi suất đã có nhưng nhiều ngân hàng vẫn không tuân thủ. Đã có biện pháp chế tài nhưng làm không quyết liệt. Thời gian đầu có cho sa thải một vài giám đốc chi nhánh nhưng cách giải quyết lại không có hiệu quả răn đe.
Kết quả là, doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn, dẫn đến cái vòng luẩn quẩn “thua lỗ - không trả được nợ - nợ xấu – vướng quy định về điều kiện vay vốn – thua lỗ”. Đây là nguyên nhân dẫn đến “tắc nghẽn” tín dụng. Mặt khác, tập quán cho vay bằng tài sản thế chấp ngân hàng tiếp tục làm khó doanh nghiệp.
Vậy nên giải quyết theo hướng nào, thưa ông?
Ngân hàng Nhà nước phải tạo dựng được mặt bằng lãi suất hợp lý để nền kinh tế hoạt động bền vững. Ngân hàng Nhà nước nên vận dụng mọi công cụ để thực hiện được chính sách lãi suất này. Luật Ngân hàng cho phép Ngân hàng Nhà nước cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất do thống đốc quyết định, từ đó, Ngân hàng Nhà nước có thể chỉ đạo cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp trong những lĩnh vực ưu tiên.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cần chỉ đạo cho vay theo dự án chứ không phải cho vay theo đối tượng. Theo đó, doanh nghiệp phải trình bày với ngân hàng tính khả thi và khả năng trả nợ của dự án. Ngân hàng thương mại có trách nhiệm giám sát từng dự án.
Với cách làm này, luồng tiền sẽ đi đúng mục đích, không gây lạm phát. Đưa nguồn vốn lãi suất thấp vào đúng địa chỉ là điều ngân hàng cần làm trong thời gian tới. Khi tín dụng - “huyết mạch” của nền kinh tế không được thông suốt thì làm sao nền kinh tế vận động tốt được.
Một số chuyên gia quốc tế cho rằng kinh tế Việt Nam chưa đạt điều kiện “đủ chín” để thực hiện nới lỏng tiền tệ, điều này có đúng không, thưa ông?
Những chuyên gia quốc tế luôn suy nghĩ theo mô hình kinh tế của các nước phát triển. Ở các nước đó, tín dụng phần lớn là tín dụng tiêu dùng. Nên họ nghĩ không nên nới lỏng tín dụng bởi vì tăng tín dụng là tăng tín dụng tiêu dùng và sẽ dẫn đến lạm phát. Lực mua hàng hóa trên thị trường ào ạt ắt gây ra lạm phát.
Nhưng điều này không hẳn đúng với Việt Nam. Bởi vì, ở nước ta, phần lớn tín dụng không đi vào lĩnh vực tiêu dùng.
Theo ông, nên “nắn” dòng tín dụng vào những lĩnh vực nào?
Cần nắn tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt sản xuất để xuất khẩu. Xuất khẩu là ưu tiên hàng đầu để củng cố dự trữ ngoại hối và ổn định giá trị đồng tiền. Mặt khác, cũng cần nghĩ đến tín dụng tiêu dùng để phát triển sức cầu thị trường nội địa. Sản phẩm làm ra cũng cần đáp ứng sức cầu có khả năng thanh toán, hoặc cầu được hỗ trợ thanh toán từ tín dụng tiêu dùng.
Do vậy, cũng cần tính nên phát triển tín dụng tiêu dùng trong lĩnh vực nào là tốt. Tuy nhiên, rất cần thận trọng để tránh tình trạng quá nhiều tiền bị đẩy ra nền kinh tế dẫn đến lạm phát.
(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)




Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 9 đến 14/8/2026 không chỉ ghi nhận hàng loạt thỏa thuận hợp tác mà còn phản ánh tư duy chủ động mở rộng không gian phát triển chiến lược cho Việt Nam. Trong bối cảnh quốc tế biến động hiện nay, chuyến thăm trở thành một lát cắt quan trọng để nhìn nhận cách Việt Nam triển khai đối ngoại phục vụ phát triển trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số và từng bước trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, việc nâng cao năng suất không còn là câu chuyện riêng của ngành khoa học và công nghệ, mà là một trong những nhiệm vụ trung tâm của cả hệ thống trong giai đoạn 2026–2030...
Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nhấn mạnh về tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ của hệ thống pháp luật...
Nhân dịp Quốc khánh lần thứ 80 của Ấn Độ (15/8/1947 - 15/8/2026), Tạp chí VnEconomy trân trọng và hân hạnh đăng bài viết của Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Ấn Độ tại Việt Nam Tshering W. Sherpa, chia sẻ những dấu mốc trên hành trình phát triển của Ấn Độ và những triển vọng mới trong quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam - Ấn Độ.
Chương trình mục tiêu quốc gia được hợp nhất từ 04 Chương trình hiện hành, tập trung 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm; chuyển đổi mạnh mẽ từ phương thức phân bổ "theo nhu cầu đăng ký" sang "theo năng lực và điều kiện sẵn sàng thực hiện"; đồng thời bỏ tầng nấc trung gian.
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Trong nhiều năm, khi nói đến tăng trưởng kinh tế, Việt Nam thường đặt trọng tâm vào ba động lực truyền thống: xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, dư địa tăng trưởng của các động lực cũ đang dần thu hẹp, buộc Việt Nam phải tìm kiếm những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao hơn, ít phụ thuộc vào tài nguyên và có khả năng tạo ra nguồn thu ngoại tệ bền vững.