Đề xuất đầu tư xây dựng Tổ hợp công nghiệp đường sắt quốc gia

Dự án Tổ hợp công nghiệp đường sắt quốc gia có quy mô 250 ha được Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đề xuất đầu tư bằng 100% vốn nhà nước, hướng tới mục tiêu làm chủ chuỗi sản xuất toa xe, đầu máy và các linh kiện đường sắt tốc độ dưới 200 km/h và đường sắt đô thị...

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) vừa có văn bản gửi Bộ Tài chính xem xét, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Tổ hợp công nghiệp đường sắt.

Theo đó, Dự án Tổ hợp công nghiệp đường sắt đặt tại huyện Phú Xuyên và huyện Ứng Hòa (TP. Hà Nội), quy mô khoảng 250 ha, sử dụng 100% vốn nhà nước theo hình thức tăng vốn tại doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, thực hiện mua sắm trang thiết bị để lắp ráp, sản xuất đầu máy, toa xe cho đường sắt có tốc độ dưới 200km/h và hệ thống đường sắt đô thị.

TỔ HỢP CÔNG NGHIỆP ĐƯỜNG SẮT TRỊ GIÁ HƠN 17,5 NGHÌN TỶ ĐỒNG

Tổ hợp công nghiệp đường sắt sẽ là tổ hợp công trình đa chức năng, gồm nhà máy sản xuất, lắp ráp phương tiện, thiết bị, phụ tùng; trung tâm nghiên cứu; trung tâm sửa chữa, bảo trì; kết nối hạ tầng với tuyến đường sắt quốc gia và các công trình phụ trợ.

Sơ bộ tổng mức đầu tư của Dự án Tổ hợp công nghiệp đường sắt là 17.509 tỷ đồng. Trong đó, vốn đầu tư công sẽ được dùng để xây dựng tuyến đường sắt kết nối với đường sắt quốc gia, hạ tầng kỹ thuật, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) và các hạng mục được Nhà nước hỗ trợ; vốn nhà nước bổ sung vào doanh nghiệp sẽ dùng đầu tư xây dựng nhà máy lắp ráp và các hạng mục liên quan; đồng thời kêu gọi nhà đầu tư cùng tham gia và hợp tác kinh doanh.

Theo đại diện của VNR, tổ hợp có mục tiêu sản xuất trong nước và từng bước nội địa hoá linh kiện phần cứng, phần mềm về thông tin, tín hiệu và hệ thống cấp điện; làm chủ toàn bộ công tác vận hành, bảo trì và từng bước sản xuất một số linh kiện, phụ tùng thay thế đối với đường sắt tốc độ cao; nhận chuyển giao công nghệ, đầu tư máy móc thiết bị và sản xuất đầu máy, toa xe cho đường sắt quốc gia với tốc độ nhỏ hơn 200 km/h, đồng thời mua thiết kế và sản xuất đối với đường sắt đô thị.

Nếu được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Dự án Tổ hợp công nghiệp đường sắt sẽ chuẩn bị đầu tư trong vòng 1 năm; triển khai xây dựng trong vòng 3 năm để kịp hoàn thành giai đoạn I vào năm 2029.

Ước tính, doanh thu mà tổ hợp này mang lại từ năm 2030 đến năm 2050 khoảng 228.102 tỷ đồng; lợi nhuận bình quân 1.141 tỷ đồng/năm, giúp Dự án có thể hoàn vốn trong 16 năm.

Theo kế hoạch, Tổ hợp sẽ xây dựng phân khu chức năng thực hiện việc sửa chữa lớn đối với toàn bộ phương tiện, thiết bị đường sắt, trước mắt là đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị.

Cụ thể, đối với các tuyến đường sắt đô thị, các tuyến đường sắt mới, trong giai đoạn đầu (từ năm 2029 đến năm 2031), Tổ hợp công nghiệp đường sắt này sẽ lắp ráp đầu máy điện, đầu máy năng lượng sạch; sản xuất toa xe khách cho đường sắt tốc độ dưới 160 km/h; lắp ráp các đoàn tàu điện động lực phân tán (EMU) cho đường sắt đô thị; sản xuất toa xe hàng tốc độ 120 km/h cho tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

Trong giai đoạn tiếp theo (từ năm 2032 đến năm 2035), Tổ hợp đặt mục tiêu làm chủ sản xuất đối với toa xe khách, toa xe hàng tốc độ dưới 160 km/h; lắp ráp đầu máy điện, nâng dần tỷ lệ nội địa hóa lên 30%; sản xuất các vật tư, phụ tùng cho sửa chữa phương tiện, phụ kiện kết cấu hạ tầng, thông tin tín hiệu…

Đối với tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, Tổ hợp sẽ tham gia lắp ráp các đoàn tàu EMU theo hợp đồng mua sắm và chuyển giao công nghệ. Đến năm 2035, làm chủ công nghệ lắp ráp và nâng dần tỷ lệ nội địa hóa lên 20%.

Đến giai đoạn 2040 – 2050, Tổ hợp phấn đầu làm chủ nội địa hoá đạt 80% đối với đoàn tàu EMU và sản xuất các vật tư, phụ tùng phục vụ khai thác, vận hành tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam.

NHỮNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ

Theo tính toán, đến năm 2050, định hướng các hoạt động cải tạo, nâng cấp, xây dựng đường sắt, bao gồm cả đường sắt đô thị, đường sắt tốc độ cao, ước đạt tổng giá trị khoảng 275 tỷ USD.

Đây là thị trường khổng lồ để công nghiệp đường sắt trong nước phát triển đồng bộ cả 5 hạng mục công việc, gồm tư vấn, thiết kế và quản lý dự án; nhóm công nghiệp xây dựng công trình đường sắt; nhóm công nghiệp thông tin, tín hiệu đường sắt; nhóm công nghiệp đầu máy, toa xe, phụ tùng, phụ kiện; nhóm công nghiệp về hệ thống điện sức kéo…

Để tạo động lực cho sự phát triển đồng bộ của ngành công nghiệp đường sắt trong nước, VNR kiến nghị bổ sung các sản phẩm, vật tư, thiết bị, sản phẩm láp ráp, chế tạo đầu máy, toa xe (bao gồm cả đầu máy điện khí hóa, toa xe EMU, đoàn tàu tốc độ cao) thuộc công nghiệp đường sắt cần ưu tiên vào danh mục sản phẩm cơ khí trọng điểm trong chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam làm cơ sở được hưởng các chính sách ưu đãi.

Đồng thời, tạo điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tham gia cung ứng sản phẩm, dịch vụ, tạo thành hệ sinh thái công nghiệp đường sắt.

Song song đó, VNR đề xuất bổ sung danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao là máy móc, thiết bị chuyên dụng, công nghệ trong phát triển công nghiệp đường sắt bao gồm dây chuyền công nghệ, công nghệ chế tạo vật tư và phụ tùng phục vụ đường sắt đô thị, đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa.

Ngoài ra, VNR cũng kiến nghị bổ sung các sản phẩm công nghệ cao thuộc công nghiệp đường sắt vào danh mục công nghệ cao được ưu tiên để đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển công nghệ trong lĩnh vực đường sắt, phục vụ các dự án mới.

Kinh tế Việt Nam sau 81 năm độc lập: Những bước chuyển lịch sử và khát vọng trong kỷ nguyên mới

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.

Một phần tư thế kỷ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi trọng việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ cách đây gần 80 năm, còn Việt Nam mới chỉ bắt đầu công cuộc này cách đây một phần tư thế kỷ. Vì vậy, vẫn còn rất nhiều việc cần làm để phát huy tối đa vai trò của khu vực này, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.

GDP sản xuất/GDP sử dụng: Kết quả tích cực, những vấn đề cần lưu ý

Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Ngành Thống kê Việt Nam (6/5/1946 - 6/5/2026), Cục Thống kê công bố cuốn sách “Cấu trúc kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986-2025)”. Đáng chú ý, lần đầu tiên một số liệu quan trọng về tương quan giữa GDP sản xuất và GDP sử dụng được công bố, qua đó cho thấy những kết quả tích cực của nền kinh tế, đồng thời đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục phân tích.

Từ tăng trưởng đến thịnh vượng, hạnh phúc

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế chưa bao giờ là mục tiêu tự thân. Đằng sau tăng trưởng, sản xuất và tích lũy của cải là một yêu cầu nhất quán: làm cho nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời, tạo nền tảng để dân tộc vươn lên độc lập, tự cường, phồn vinh. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm và khơi dậy khát vọng dân tộc tiếp tục gợi mở một hệ quy chiếu quan trọng cho lựa chọn mô hình phát triển.

Các thành phố lớn tại Việt Nam đang đối mặt với tình trạng “đô thị nén”, mật độ xây dựng cao, thiếu không gian mở và cây xanh. Điều này làm suy giảm khả năng thông gió tự nhiên, gia tăng hiện tượng đảo nhiệt đô thị và khiến con người ngày càng phụ thuộc vào hệ thống điều hòa…

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy