Trong chuyến điền dã về nông nghiệp sinh thái tại tỉnh Sơn La do Liên minh Học tập Nông nghiệp Sinh thái Đông Nam Á (ALiSEA) tổ chức, chúng tôi được chiêm ngưỡng những vườn bơ, hồng, chanh leo... sai trĩu quả ở bản Hua Tạt. Tại đây, Hợp tác xã nông nghiệp A Cao được thành lập năm 2018 với 7 thành viên là người Mông, xuất phát từ nhu cầu liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản.
Ông Tráng A Cao, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp A Cao, cho biết bình quân mỗi năm Hợp tác xã cung ứng khoảng 50 tấn bắp cải, 50 tấn đậu cove, 20 tấn hồng giòn, 10 tấn cà chua, 20 tấn cam Vinh, 10 tấn bưởi, 10 tấn cam Canh, 30 tấn quýt đường, 30 tấn lê và 6 tấn dâu tây. Các sản phẩm được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và tiêu chuẩn hữu cơ.
Trước đây, gia đình ông Cao có khoảng 6 ha trồng ngô và lúa. Mỗi năm chỉ sản xuất một vụ, trong khi chi phí nhân công, phân bón cao nên lợi nhuận thấp. Rau cũng thường rơi vào tình trạng được mùa thì khó bán. Vì vậy, cây ăn quả được lựa chọn để thay đổi phương thức sản xuất.
Con đường chuyển đổi sản xuất ở đây không phải lúc nào cũng thuận lợi. Ông Cao cho hay gia đình từng trồng 2.000 cây chanh chua. Năm đầu thu khoảng 1 tấn, năm thứ hai đạt 6-7 tấn nhưng giá chỉ khoảng 2.000 đồng/kg, không có người mua nên phải phá bỏ. Sau đó, gia đình trồng khoảng 1.000 cây bưởi nhưng 5-6 năm sau cũng phải chặt bỏ vì cây không phù hợp khí hậu, quả chua, giá bán thấp.
Từ những thất bại đó, gia đình ông và Hợp tác xã chuyển dần sang các loại cây phù hợp hơn như: lê, cam Canh, quýt đường, bơ và hồng. Hiện nay, gia đình ông có khoảng 400 cây bơ, trong đó đang ghép giống bơ 034 và Booth. Năm nay sản lượng bơ khoảng 1 tấn và dự kiến tiếp tục tăng trong những năm tới.
Từ 4 năm nay, thông qua Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) do Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) cùng Trung ương hội nông dân triển khai, ông Tráng A Cao được tập huấn thường xuyên hơn về kỹ thuật sản xuất, ủ phân, sử dụng chế phẩm sinh học và kết nối thị trường,người dân ở Hua Tạt được tập huấn thường xuyên hơn về kỹ thuật sản xuất, ủ phân, sử dụng chế phẩm sinh học và kết nối thị trường. Điều ông đánh giá cao là các Hợp tác xã không chỉ được chuyên gia hướng dẫn mà còn có cơ hội trao đổi kinh nghiệm với nhau, từ đó điều chỉnh phương thức sản xuất phù hợp.
Dự án cũng đưa các hợp tác xã xuống Hà Nội giới thiệu, trưng bày sản phẩm và kết nối với siêu thị, cửa hàng rau củ quả sạch. Nhờ đó, một số sản phẩm trước đây khó tiêu thụ đã có thêm thị trường.
Quýt đường là một ví dụ. Trước đây, do người tiêu dùng chưa biết rõ về giống quýt này nên sản phẩm từng khó bán, thậm chí bị nhầm với cam. Tuy nhiên, sau khi được giới thiệu và dùng thử, khách hàng bắt đầu quay lại mua. Có thời điểm vườn cho 20-30 tấn quýt, Hợp tác xã bán hết trong khoảng một tháng rưỡi.
Sản xuất theo hướng sinh thái đòi hỏi nhiều lao động hơn. Nếu sử dụng thuốc trừ cỏ, mỗi năm chỉ cần phun 2-3 lần, còn sản xuất hữu cơ phải phát cỏ khoảng 10 lần. Từ khi chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, thu nhập gia đình đạt khoảng 500-600 triệu đồng/năm".
Quá trình chuyển đổi cũng làm thay đổi cách sử dụng vật tư đầu vào. Trước đây, gia đình chủ yếu sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Mỗi lần phun có thể sử dụng khoảng 2.000 lít nước, riêng một loại thuốc mất khoảng 3 triệu đồng; tính cả dinh dưỡng và thuốc phòng bệnh có thể lên tới 4-5 triệu đồng/lần.
Khi chuyển sang hướng hữu cơ, gia đình sử dụng chế phẩm sinh học, tự ủ một số loại phân và áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt để đưa phân lỏng như đạm cá trực tiếp vào vườn. Một gói chế phẩm khoảng 200.000 đồng, sau khi nhân sinh khối có thể tạo ra khoảng 5 lít dung dịch để sử dụng. Việc tự ủ phân và nhân sinh khối giúp giảm được chi phí vật tư đầu vào so với trước đây.
Theo ông Cao, nông nghiệp sinh thái khác với sản xuất hữu cơ ở chỗ không chỉ tập trung vào một loại cây mà hướng đến sự đa dạng, kết hợp nhiều loại cây trồng, gắn với rừng và các hoạt động sinh kế khác. Những diện tích cây chưa cho quả có thể trồng xen rau, ngô hoặc lúa để tạo thêm thu nhập.
Mô hình này có thể giúp người dân từng bước thay đổi tập quán sản xuất, nhưng cần thời gian. Một số hộ vẫn quen sử dụng thuốc trừ cỏ vì cho rằng nhanh và giảm công lao động. Trong khi đó, nông nghiệp sinh thái đòi hỏi phải thay đổi cách nghĩ, cách làm và cần có mô hình thực tế để người dân trực tiếp thấy hiệu quả.
Đời sống của người dân Hua Tạt cũng có nhiều thay đổi. Giai đoạn 2014-2015, bản có hơn 70 hộ nghèo, đến thời điểm này chỉ còn 2 hộ. Người dân thoát nghèo nhờ trồng cây, sản xuất nông nghiệp và đi làm thuê. Tuy nhiên, một bộ phận lao động trẻ không còn muốn gắn bó với nông nghiệp do đầu ra bấp bênh, giá nông sản thấp trong khi chi phí đầu tư cao".
Một khó khăn khác là nước và điện. Gia đình ông đã đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt, nhưng nhiều hộ chưa có nguồn nước, điện ổn định. Có nơi phải khoan giếng sâu 40-50 m, thậm chí 70-80 m nhưng vẫn không có nước. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4 là thời điểm thiếu nước nghiêm trọng.
Tại bản Hua Tạt, sản xuất nông nghiệp đang được đặt trong mối quan hệ với bảo vệ rừng và phát triển du lịch cộng đồng. Bản Hua Tạt có 165 hộ, người dân chủ yếu là đồng bào Mông và sống bằng nông nghiệp. Hiện nay, khoảng 366 ha rừng của bản được giao cho các nhóm hộ quản lý, bảo vệ. Người dân được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo diện tích, mỗi năm một lần. Những năm gần đây, tình trạng khai thác gỗ, săn bắt trong rừng giảm đáng kể nhờ công tác tuyên truyền và lực lượng kiểm lâm thường xuyên tuần tra.
Theo ông Cao, người dân ngày càng nhận thức rõ hơn trách nhiệm bảo vệ rừng. Việc giao rừng cho nhóm hộ quản lý vừa tạo trách nhiệm, vừa giúp người dân có thêm nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng. Rừng cũng bắt đầu tạo ra giá trị thông qua du lịch cộng đồng khi du khách từ Hà Nội và các địa phương đến trải nghiệm, ăn uống và nghỉ tại các hộ dân homestay nơi đây.
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Thành phố Bắc Ninh hiện có 20 dự án nhà ở thương mại đã được công bố đủ điều kiện bán cho người nước ngoài. Tuy nhiên, nguồn cung thực sự phù hợp và có khả năng để người nước ngoài tiếp cận, sở hữu vẫn chưa tương vẫnxứng với nhu cầu thực...
Với sự hiện diện ngày càng nhiều các tập đoàn công nghệ và sản xuất toàn cầu tại Bắc Ninh, câu chuyện đặt ra không đơn thuần là Bắc Ninh có bao nhiêu căn hộ có thể bán, hoặc cho người nước ngoài thuê mà là địa phương cần tạo dựng môi trường sống như thế nào để tương xứng với quy mô và chất lượng của dòng vốn FDI thế hệ mới…
Tính đến ngày 8/10/2026, Nghệ An mới giải ngân 33,39% kế hoạch vốn đầu tư phát triển kéo dài của 3 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025. Tỉnh yêu cầu rà soát từng dự án, làm rõ trách nhiệm và tăng cường kiểm tra để đẩy nhanh tiến độ giải ngân...
Dự án tuyến đường nối cảng Lạch Huyện – sân bay Gia Bình dài hơn 46km, tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 43.743 tỷ đồng, dự kiến thực hiện theo phương thức PPP, thanh toán bằng 4.672ha đất…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Tuyệt đối không để nền kinh tế thiếu điện và thiếu xăng dầu, đó là khẳng định từ Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi. Kịch bản tăng trưởng kinh tế 3 tháng cuối năm cũng được xác định rõ để từng bộ, từng địa phương đều hoàn thành kế hoạch của cả năm, đưa kinh tế cả nước đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.