Điều phối liên ngành phát triển bền vững kinh tế biển
Chọn cỡ chữ
Các bộ, ngành, địa phương có biển chủ động xử lý các vấn đề phát sinh trong sử dụng không gian biển theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền. Đối với các vấn đề mang tính liên ngành, liên bộ, liên địa phương, các bộ, ngành và địa phương có biển báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cơ quan thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam để tổng hợp xử lý...
Ưu tiên các hoạt động có tác động thấp đến môi trường, bảo vệ hệ sinh thái biển và hỗ trợ phục hồi các khu vực bị suy thoái.
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ngày 3/9/2025 đã ký Quyết định số
1893/QĐ-TTg phê duyệt Cơ chế điều phối liên ngành về phát triển bền vững kinh tế
biển.
Cơ chế quy định về nguyên tắc, nội dung, phương thức và
trách nhiệm trong việc phối hợp giữa Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Ủy ban) với các bộ, ngành và UBND các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương có biển trong phát triển bền vững kinh tế biển.
SÁU NỘI DUNG PHỐI HỢP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN
Quyết định nêu rõ một trong nguyên tắc phối hợp là bảo đảm
phối hợp chặt chẽ hiệu quả; phân công cụ thể trách nhiệm phối hợp của các bộ,
ngành, địa phương và Ủy ban.
Hoạt động phối hợp phải dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương có biển; tuân thủ các quy định tại Cơ chế này và theo quy định của
pháp luật; bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công việc, giải quyết kịp thời những
vấn đề phát sinh; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong phát triển bền vững
kinh tế biển.
Chủ động, thường xuyên trao đổi thông tin; đảm bảo cung cấp
thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời. Bảo đảm sự đoàn kết, hỗ trợ, phối hợp
hiệu quả giữa các cơ quan liên quan.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong phát triển bền vững kinh tế biển.
Khi phát sinh các vấn đề cần xử lý thuộc thẩm quyền của cơ
quan nào thì cơ quan đó chủ trì và các đơn vị khác phối hợp; khi phát sinh vấn
đề thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan quản lý thì báo cáo Ủy ban để chủ trì xử
lý.
Quyết định nêu rõ 6 nội dung phối hợp trong phát triển bền vững
kinh tế biển.
Thứ nhất, phối hợp cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu về những
quy định của pháp luật, chủ trương, chính sách mới và tình hình thực hiện các
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án liên quan đến phát
triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.
Thứ hai, phối hợp trong xử lý các vấn đề mang tính liên
ngành trong thực hiện công tác quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ được
giao.
Thứ ba, phối hợp trong xây dựng và triển khai cơ sở dữ liệu
biển, các cơ chế tài chính, đảm bảo an ninh, an toàn trên biển và hợp tác quốc
tế nhằm hỗ trợ phát triển bền vững kinh tế biển.
Ảnh minh họa.
Thứ tư, phối hợp trong công tác đôn đốc, kiểm tra, đánh giá
tình hình thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án liên
quan đến Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.
Thứ năm, phối hợp trong tổ chức các hội nghị, hội thảo, các
diễn đàn liên quan tới Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.
Thứ sáu, phối hợp trong công tác sơ kết, tổng kết tình hình
thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án liên quan
đến phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.
Trong cung cấp, trao đổi thông tin thực hiện các chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án liên quan đến phát triển bền vững
kinh tế biển, Quyết định nêu rõ trách nhiệm chung của các bộ, ngành và địa
phương liên quan về cung cấp, trao đổi thông tin tình hình triển khai Nghị quyết
số 26/NQ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ ban hành Kế hoạch tổng thể và kế hoạch
5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội
nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển
bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết
số 26/NQ-CP) theo 6 nhóm nhiệm vụ.
Tình hình thực hiện Nghị quyết số 139/2024/QH15 về Quy hoạch không gian biển quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050, bao gồm thông tin về lập và điều chỉnh các quy hoạch ngành quốc gia, bảo đảm đồng bộ với Quy hoạch không gian biển. Đồng thời, cung cấp thông tin về việc xây dựng và ban hành các chính sách, giải pháp phát triển ngành để đạt mục tiêu trong Quy hoạch và Kế hoạch thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia. Ngoài ra, còn thông tin đánh giá thực hiện Quy hoạch hàng năm và 5 năm theo quy định pháp luật.
TIÊU CHÍ XỬ LÝ CÁC VẤN ĐỀ MANG TÍNH LIÊN NGÀNH
Cũng theo cơ chế này, các bộ, ngành, địa phương có biển cần
chủ động xử lý các vấn đề phát sinh trong sử dụng không gian biển theo chức
năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao. Đối với các vấn đề mang tính liên
ngành, liên bộ, liên địa phương, các bộ, ngành và địa phương có biển báo cáo Bộ
Nông nghiệp và Môi trường, Cơ quan thường trực Ủy ban để tổng hợp xử lý. Quyết
định nêu rõ việc xử lý thông qua phiên họp liên ngành để xem xét trên cơ sở 5
tiêu chí.
Thứ nhất, tiêu chí ưu tiên theo quy hoạch và chiến lược quốc
gia. Các hoạt động sử dụng không gian biển phải phù hợp với Nghị quyết số
139/2024/QH15, Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam (Nghị quyết
số 36-NQ/TW), Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường
biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Nghị quyết số 48/NQ-CP) và
các chiến lược, quy hoạch ngành liên quan.
Thứ hai, tiêu chí đảm bảo quốc phòng và an ninh: Các hoạt động
sử dụng không gian biển không được gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, độc lập,
chủ quyền, và quyền tài phán của Việt Nam.
Thứ ba, tiêu chí đánh giá tác động kinh tế- xã hội: Đánh
giá mức độ đóng góp của các hoạt động vào tăng trưởng kinh tế biển và vùng ven
biển; Tạo việc làm và cải thiện đời sống cộng đồng địa phương; Phát triển văn
hóa biển và xã hội gắn bó với biển; Ưu tiên các hoạt động có lợi ích kinh tế-
xã hội lớn hơn, ít gây tác động tiêu cực đến các bên liên quan khác; Xem xét
các tác động ngắn hạn và dài hạn, đặc biệt là đối với các cộng đồng dễ bị tổn
thương như ngư dân và dân tộc thiểu số ven biển.
Thứ tư, tiêu chí bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu: Ưu tiên các hoạt động có tác động thấp đến môi trường, bảo vệ hệ sinh thái biển
và hỗ trợ phục hồi các khu vực bị suy thoái. Đồng thời đánh giá khả năng ứng
phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, đặc biệt đối với các dự án ven biển
hoặc khu vực dễ bị tổn thương. Ưu tiên các hoạt động có cam kết rõ ràng về giảm
thiểu ô nhiễm và bảo tồn đa dạng sinh học.
Thứ năm, tiêu chí tham vấn cộng đồng và các bên liên quan.
Các hoạt động sử dụng không gian biển đã được tham vấn và được sự đồng thuận của
cộng đồng địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan theo quy định của
pháp luật.
Đối với các trường hợp vượt thẩm quyền, Bộ Nông nghiệp và
Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan đề xuất
phương án xử lý, báo cáo Chủ tịch Ủy ban để xem xét, chỉ đạo.
Việc xây dựng, thẩm định các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
cơ chế, chính sách liên quan tới phát triển kinh tế biển phải có sự tham gia
góp ý của các bộ, ngành, địa phương liên quan để đảm bảo tính đồng bộ, tránh chồng
chéo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển gắn với công tác bảo vệ quốc
phòng, an ninh.
Các bộ, ngành và địa phương được giao chủ trì các nhiệm vụ
xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách liên quan tới
phát triển kinh tế biển cần chủ động thông tin tới Cơ quan thường trực Ủy ban
và các ủy viên Ủy ban để bố trí nhân lực tham gia xây dựng, góp ý.
Việt Nam có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế biển, đặc biệt là đường bờ biển dài khoảng 3.260km; khoảng hơn 3.000 đảo và quần đảo lớn nhỏ, trong đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược rất quan trọng; các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia rộng hơn 1 triệu km2 (trải dài trên 21 tỉnh, thành phố ven biển).
Khi điện gió phát triển nhanh tại châu Âu, số lượng tuabin và cánh quạt hết vòng đời cũng sẽ gia tăng. Một doanh nghiệp Thụy Điển đang thử nghiệm nhiều cách tái sử dụng các bộ phận của tuabin gió, từ biến vỏ nacelle thành nhà siêu nhỏ, cánh quạt thành mặt tiền bãi đỗ xe đến chế tạo ván trượt tuyết, qua đó mở thêm hướng đi cho kinh tế tuần hoàn trong ngành năng lượng tái tạo…
Từ loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone, Việt Nam đang bước sang giai đoạn giảm dần các chất có tác động lớn đến khí hậu, tăng cường quản lý các chất được kiểm soát trong toàn bộ vòng đời và thúc đẩy các giải pháp công nghệ bền vững hơn. Cùng với đó, hệ thống chính sách từng bước được hoàn thiện, vừa bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế, vừa định hướng thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh theo hướng xanh, bền vững...
Năm 2026 đánh dấu 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua, mở ra một giai đoạn mới trong nỗ lực toàn cầu bảo vệ tầng ozone và ứng phó với biến đổi khí hậu. Với việc đưa các chất HFC- những khí nhà kính có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao - vào lộ trình giảm dần, Bản sửa đổi, bổ sung Kigali đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghệ trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí theo hướng có tác động thấp hơn tới khí hậu...
Việc quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời thúc đẩy làm mát bền vững, cần được đặt trong một bài toán tổng thể với cách tiếp cận mới và các giải pháp đồng bộ. Làm mát bền vững là bài toán liên ngành, liên quan đến nhiều bộ, ngành và địa phương...
UBND Thành phố Hà Nội yêu cầu các sở, ban, ngành và địa phương chủ động rà soát các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển bền vững; đánh giá mức độ thực hiện và khả năng hoàn thành đến năm 2030, gắn với tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Năm 2025, quy mô thị trường du lịch wellness toàn cầu được định giá 990,4 tỷ USD. Năm 2026, dự kiến 1.085,6 tỷ USD. Năm 2035 dự kiến 2.400 tỷ USD. Thị trường châu Á - Thái Bình Dương có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm cao nhất... trong giai đoạn 2026 - 2035.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...