
Theo Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC), sản xuất của các doanh nghiệp dệt may và da giày tại TP.HCM hiện chiếm 40%-50% năng lực sản xuất cả nước. Dệt may và da giày cũng là ngành có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 sau dầu thô.
Trong bối cảnh kinh tế mới, tác động của dịch Covid-19 kéo dài dẫn tới sự suy thoái của nhiều nền kinh tế trên thế giới, ngành dệt may - da giày của nước ta đang đối mặt với nhiều khó khăn, như: các thị trường nhập khẩu lớn tiếp tục giảm đơn hàng, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh về nguyên vật liệu và điều kiện sản xuất…
Chia sẻ về tình trạng giảm đơn hàng xuất khẩu hiện nay, ông Phạm Văn Việt, Phó Chủ tịch Hội Dệt - may - thêu - đan TP.HCM (AGTEK), cho biết các doanh nghiệp đang khổ sở vì đơn hàng xuất khẩu giảm những tháng cuối năm, đặc biệt hàng xuất sang Châu Âu.
Theo ông Nguyễn Văn Khánh, Phó Chủ tịch Hội Da giày TP.HCM (SLA), nhiều doanh nghiệp da giày đang cố gắng duy trì hoạt động sản xuất, có doanh nghiệp đã phải cắt giảm giờ làm, cho lao động nghỉ việc tạm thời vì thiếu đơn hàng xuất khẩu. Việc này khiến công nhân ngậm ngùi phải về quê ăn tết sớm.
Thời gian tới với “Chiến lược dệt may bền vững và tuần hoàn” tầm nhìn đến năm 2030 do EU đề xuất, các tiêu chuẩn xanh về lao động, nguyên vật liệu và điều kiện sản xuất càng nghiêm ngặt hơn. Điều này sẽ khó khăn đối với các doanh nghiệp dệt may và da giày, vì nhiều doanh nghiệp là vừa và nhỏ.
Ông Trần Phú Lữ, Phó Giám đốc phụ trách ITPC, cho rằng dệt may da giày là một trong những ngành sản xuất gia công chủ lực của Việt Nam, đang sử dụng rất nhiều nguồn lực lao động, tài nguyên. Vì thế, việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh là thách thức lớn.
Các nhãn hàng thời trang thế giới đánh giá sự phát triển đồng hành của các doanh nghiệp gia công trên cơ sở tuân thủ các quy định về môi trường, xã hội, và trách nhiệm đối với người lao động, người tiêu dùng toàn cầu.
Đây vừa là thách thức vừa là cơ hội để doanh nghiệp tập trung đầu tư công nghệ sản xuất hiện đại, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm khi xuất khẩu, tăng uy tín thương hiệu với người tiêu dùng.
Mặc dù còn đối diện với rất nhiều khó khăn, các doanh nghiệp vẫn đang nỗ lực tìm đầu ra cho sản phẩm để tăng giá trị xuất khẩu.
Số liệu thống kê của ITPC cho thấy, trong 10 tháng năm 2022 ngành dệt may xuất khẩu vào 66 nước, vùng lãnh thổ đạt gần 38 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ 2021. Chỉ riêng TP.HCM, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may 9 tháng đầu năm 2022 của thành phố ước đạt 3,4 tỷ USD, tăng gần 44% so với cùng kỳ 2021.
Đối với ngành da giày, hiện đang đứng hàng thứ 5 trong tốp các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, tuy nhiên vẫn là một ngành chưa được công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kim ngạch xuất khẩu ngành da giày cả nước 9 tháng năm 2022, đạt được 21 tỷ USD. Riêng TP.HCM, kim ngạch xuất khẩu ngành da giày 9 tháng đầu năm 2022 của thành phố ước đạt 1,8 tỷ USD, tăng 46% so với cùng kỳ 2021.
Để dệt may Việt Nam phát triển hơn nữa, theo bà Trần Hoàng Phú Xuân, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Kết nối thời trang Faslink, cần phải đầu tư mạnh vào R&D (nghiên cứu và phát triển), chủ động nguồn cung ứng nguyên liệu cũng như kết nối chuỗi cung ứng. Khi làm được điều này, các sản phẩm dệt may Việt Nam mới thực sự đa dạng, đáp ứng nhu cầu của người dùng.
Nhằm thích ứng với yêu cầu của các nước xuất khẩu, các doanh nghiệp ngành dệt may đã chuyển hướng tìm ra đối sách đa dạng hoá thị trường, chuyển đổi từ gia công sang phát triển mẫu, quản trị số, thúc đẩy giải pháp chuỗi cung ứng tự chủ…
Một sự kiện đáng chú ý mới đây tại TP.HCM, đó là “Tuần lễ triển lãm sản phẩm ngành dệt may và da giày năm 2022” (diễn ra từ ngày 29/11-5/12/2022), trưng bày và trình diễn bộ sưu tập thời trang xanh của hơn 40 doanh nghiệp tiêu biểu của ngành dệt may, da giày của thành phố.
Các sản phẩm trưng bày tại tuần lễ triển lãm lần này ứng dụng công nghệ sản phẩm là nguyên vật liệu mới, thân thiện với môi trường, như: sợi vải xanh từ bã cà phê, lá và thân sen, vỏ sò, than vỏ dừa, cellulose bạc hà, chai nhựa PET….
Bà Trần Hoàng Phú Xuân cho biết thời trang xanh đang là xu thế chung của ngành dệt may thế giới hiện nay. Những loại nguyên liệu thân thuộc và gần gũi với người Việt được sử dụng để sản xuất áo sơ mi, khăn và mũ nón rất thời trang với chất vải mịn, mát, phù hợp với khí hậu và thời tiết Việt Nam.
Trong bối cảnh đất nước đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhanh và bền vững, việc sản xuất thành công nhôm thỏi đầu tiên không chỉ là thành quả của một dự án công nghiệp, mà còn là sự khẳng định về năng lực tự chủ, hiện thực hóa khát vọng chế biến sâu và nâng cao giá trị tài nguyên quốc gia...
Chỉ trong một thập kỷ, tỷ trọng của tôm hùm trong tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đã tăng từ khoảng 7% lên gần 25% trong nửa đầu năm 2026. Đà tăng trưởng này mở ra triển vọng đưa tôm hùm trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ USD nếu tháo gỡ được các rào cản thị trường và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn...
Việt Nam hiện là quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Tuy nhiên, trước áp lực từ các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu, ngành hàng này cần thay đổi chiến lược: chuyển từ tăng trưởng quy mô sang ưu tiên chất lượng và tính bền vững. Để giữ vững vị thế, việc xây dựng chuỗi giá trị minh bạch và thắt chặt quy trình kiểm soát chất lượng là yêu cầu cấp thiết...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.
Các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam. Mức thuế 12,5% theo Điều 301 không gây tác động tiêu cực lớn đến xuất khẩu công nghệ cao, nhưng lại đặt ra bài toán khó cho ngành nông sản và dệt may. Việt Nam cần có chiến lược thích ứng để duy trì lợi thế cạnh tranh.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.